Ngày này qua tháng khác, năm này qua năm khác, cuộc sống của những phụ nữ Hà Nhì ở các thôn, bản vùng cao Bát Xát vẫn bị bao phủ bởi đám mây đen của nhiều hủ tục.

Có những “giàng mi già” không chịu được cuộc sống quá khổ cực, đã tự tìm lối thoát cho mình theo cách cực đoan, nhưng đằng sau đó là nhiều câu chuyện thấm đẫm nước mắt.

Đa số phụ nữ Hà Nhì vẫn cam chịu cuộc sống vất vả.

Đi tìm nguyên nhân

Tại sao những phụ nữ dân tộc Hà Nhì phải lao động nặng nhọc, khổ cực quanh năm, suốt tháng? Tại sao họ phải gánh vác đủ thứ việc trong gia đình, chứ không phải người đàn ông “sức dài vai rộng”? Những câu hỏi này cứ bám lấy tâm trí tôi trong các cuộc gặp gỡ, trò chuyện với phụ nữ Hà Nhì. Tôi bỗng nhớ đến một câu văn trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của nhà văn Tô Hoài: “Ở lâu trong cái khổ, Mỵ cũng quen khổ rồi. Bây giờ, Mỵ tưởng mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa. Con ngựa chỉ biết ăn cỏ, biết đi làm thôi”. Phải chăng những gì đã là thói quen, là luật tục sẽ khiến con người ta không biết đến các cảm giác của bản thân, ngay cả những tủi hờn hay mệt mỏi cho số kiếp của mình. Nhưng con người đâu phải là gỗ đá mà không có cảm xúc, nghĩ suy!

Lý giải điều này, chị Ly Giá Sơ, Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã Y Tý cho rằng: Căn nguyên của những vất vả, bất bình đẳng trên là bởi quan niệm “trọng nam khinh nữ” - một trong những tàn dư của chế độ phong kiến. Thêm vào đó, người Hà Nhì thường sống ở vùng núi cao, vùng sâu, biệt lập với thế giới bên ngoài, cách xa “ánh sáng” văn minh nên những thói quen trong việc làm, cách nghĩ vẫn chưa xóa bỏ được. Nó như sợi dây vô hình trói chặt người phụ nữ với những vất vả, khổ đau. Người Hà Nhì nói chung, phụ nữ Hà Nhì nói riêng mặc nhiên cho rằng thân phận phụ nữ phải có trách nhiệm gánh vác, lo toan hết công việc gia đình, còn đàn ông thì cũng mặc nhiên cho mình quyền được ở “vai trên”.

Trở lại chuyện vì sao phụ nữ Hà Nhì không được ăn cơm cùng mâm với bố chồng, không được ngồi ghế ăn cơm khi có mặt bố chồng, anh chồng, ông Sần Gớ Thó, một cao niên ở thôn Lao Chải, xã Trịnh Tường cho biết: “Theo quan niệm của người Hà Nhì từ xa xưa, con dâu xử sự như thế mới thể hiện sự tôn trọng bố chồng, anh chồng. Nếu làm trái, họ sợ sẽ bị tổ tiên, thần linh trừng phạt”. Còn chuyện phụ nữ “ăn cơm trước kẻng”, phụ nữ không chồng mà mang thai bị làng phạt vạ, ông Thó bảo, người Hà Nhì vẫn cho rằng, phụ nữ như thế là hư hỏng, đem đến cho thôn, bản những điều đen đủi, không may mắn, nên bị dân làng nhìn bằng ánh mắt coi thường, bị xa lánh, miệt thị.

Cực đoan tự giải thoát mình

Người dân Hà Nhì ở thôn Kin Chu Phìn 2, xã Nậm Pung chẳng ai không biết câu chuyện về hai “giàng mi già” là Cao Xe Me và Lý Chu Gụ cách đây một năm. Cao Xe Me có chồng là Cao A Vù, họ cưới nhau đã được 14 năm. Cũng như những phụ nữ khác ở xứ sở mù sương này, chị Me phải làm việc quần quật từ sáng đến tối, thực hiện đúng nghĩa vụ và đạo lý vốn có của con dâu Hà Nhì. Cảnh nhà vốn chỉ trông vào đôi tay gầy của chị nên đã túng lại càng thiếu khi 4 đứa con lần lượt ra đời. Ngôi nhà nhỏ ngày càng xác xơ, trống huếch, trống hoác vì đồ đạc đem bán dần để trang trải cuộc sống gia đình. Hôm đó là chợ phiên Mường Hum, chị Me cùng vài phụ nữ trong thôn địu măng xuống chợ bán. Phiên chợ tan rồi, 4 đứa con của chị Me cứ ra đầu thôn hóng mãi mà không thấy mẹ về. Rồi sau đó, gia đình nghe thông tin chị Me đã sang Trung Quốc làm thuê…Tương tự trường hợp của Cao Xe Me, chị Lý Chu Gụ đã có chồng và 4 con, do gia đình quá khó khăn nên chị Gụ cũng theo một số người sang Trung Quốc làm thuê kiếm tiền từ đầu năm 2015. Nghe nói, từ đó tới nay, chị Gụ có về thăm con một, hai lần, rồi không về nữa.

Điều đáng suy nghĩ là hiện nay không chỉ có Cao Xe Me và Lý Chu Gụ ở Kin Chu Phìn 2, xã Nậm Pung, mà đi đến thôn, bản Hà Nhì nào trên vùng cao Bát Xát, chúng tôi đều được nghe những câu chuyện buồn về các “giàng mi già” tự giải thoát mình bằng cách bỏ đi khỏi địa phương. Tuy nhiên, giải thoát bằng cách bỏ chồng con để đến với miền đất hứa, nơi đất khách quê người, mà chính các “giàng mi già” Hà Nhì cũng không biết có được sung sướng hay không thì là giải pháp “cực chẳng đã”. Ở nơi ấy, chắc chắn nỗi buồn sẽ càng dài ra và nặng hơn vì họ phải xa người thân, xa quê hương.

Mẹ bỏ đi hai chị em Cao Thó De và Cao Thó Bia vất vả mưu sinh nuôi em ăn học.

Bao hệ lụy xót xa

Chuyện phụ nữ đi làm ăn xa hoặc bỏ đi khỏi địa phương không còn mới ở các thôn, bản vùng cao trong tỉnh. Và cảnh những đứa trẻ bơ vơ, côi cút trong những ngôi nhà đất trên các thôn Hà Nhì vì vắng bóng người mẹ đã không còn quá lạ lẫm.

Chúng tôi vượt dốc đến thăm nhà chị Cao Xe Me dưới chân núi đá trắng cao ngất. Ngôi nhà đất cũ nát, tường nứt dọc, nứt ngang, khi trời mưa, nước dột khiến trong nhà cũng như ngoài trời ướt sũng là tổ ấm của các con chị Me, gồm Cao Thó De (13 tuổi), Cao Thó Bia (10 tuổi), Cao Thó Suy (9 tuổi) và Cao Thó Cà (6 tuổi). Vì không được đi học, nên hai chị em De và Bia không nói và viết được tiếng phổ thông, chúng tôi phải nhờ người phiên dịch để hỏi chuyện. Từ ngày mẹ bỏ đi, bố các em thường xuyên đi vài ngày mới về, không ngó ngàng đến nhà cửa, con cái. Chị cả Cao Thó De trở thành trụ cột trong gia đình, từ việc chăm lo cho các em đến việc lấy củi, lấy rau... 13 tuổi nhưng De nhỏ thó, khuôn mặt sạm đen vì vất vả, nắng gió.

Cách ngôi nhà của chị em De không xa là nhà của 4 chị em: Sần Mờ So (13 tuổi), Sần Mờ Sa (12 tuổi), Sần Mờ Sư (8 tuổi), Sần Mờ Gia (5 tuổi) - các con của chị Gụ cũng cùng cảnh ngộ. Mẹ của các em bỏ đi mà không dặn dò một câu hoặc từ biệt đàn con thơ dại. So và Sa không được tới trường, còn 2 em nhỏ Sư và Gia may mắn được học chữ. Mỗi ngày vắng mẹ là một ngày những đôi mắt trẻ thơ đỏ hoe ngóng về phía chân trời xa xôi. Vừa mải miết băm rau lợn, Sần Mờ So vừa nói trong tiếng nấc nghẹn ngào: “Khi mẹ mới bỏ đi, đêm nào mấy chị em cháu cũng ôm nhau khóc vì nhớ mẹ. Cháu thương các em mùa đông không đủ quần áo ấm, nhiều hôm phải nhịn đói đi học. Cháu chỉ mong mẹ sớm về, để chăm sóc các em cho đỡ khổ”. Chị Lý Dì Su, Hội trưởng Chi hội Phụ nữ thôn Kin Chu Phìn 2 buồn bã cho biết: “Hoàn cảnh của các cháu rất đáng thương, mẹ bỏ đi, bố vô tâm không chăm lo gia đình. Giờ các cháu chủ yếu sống dựa vào sự cưu mang của bà con trong thôn, xóm và làm những việc lặt vặt để cải thiện cuộc sống”.

Nhìn những căn nhà xập xệ, những mảnh đời trẻ thơ lay lắt với đôi mắt u buồn, đôi tay nhỏ bé đầy chai sạn, chúng tôi cảm thấy thật xót xa. Trên những thôn Hà Nhì xa lắc kia, còn biết bao câu chuyện thấm đẫm nước mắt như thế? Còn bao nhiêu “đàn gà con” thiếu mẹ, đang tự ủ ấm cho nhau trong sương mù giá lạnh? Và còn bao nhiêu “giàng mi già” Hà Nhì nữa đang tha hương nơi đất khách, quê người chỉ vì loay hoay tìm cách giải thoát cho mình?

Theo Tuấn Ngọc - Tô Dung/Báo Lào Cai