PGS.TSKH Nguyễn Trọng Phúc, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) cho rằng:“Thành quả 70 năm sau Cách mạng tháng Tám rất to lớn, nhưng bên cạnh đó, Việt Nam còn phải đối mặt với nhiều thách thức đổi mới”.

Báo Bưu điện Việt Nam đã có cuộc trao đổi với PGS.TSKH Nguyễn Trọng Phúc nhân dịp kỷ niệm 70 năm Cách mạng tháng Tám.

PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc

Theo ông, sau 70 năm cách mạng Tháng Tám thành công và gần 30 năm đổi mới, chúng ta đã đạt những thành tựu gì?

70 năm sau Cách mạng tháng Tám và 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa, tạo ra những chuyển biến rất căn bản. Trước hết là về mặt kinh tế, chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, tạo sức bật cho sự phát triển.

Thứ hai, về phương diện xã hội, chúng ta có hàng loạt chính sách xã hội quan tâm đến con người, cuộc sống, lao động việc làm, xóa đói giảm nghèo, đó là sự bứt phá về mặt xã hội. 

Thứ ba, về xây dựng hoàn thiện hệ thống chính trị, trong đó xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là nổi bật nhất, gắn với vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản, hoàn thiện hệ thống chính trị.

Thứ tư, về quốc phòng an ninh, Việt Nam tăng cường sức mạnh phòng ngừa, giữ vững được độc lập chủ quyền của mình, và tăng cường đối ngoại góp phần nâng cao vị thế của đất nước.

Thứ năm chính là thành tựu về lí luận, nhận thức về lí luận, nhận thức về chủ nghĩa xã hội, con đường lên chủ nghĩa xã hội ngày càng rõ hơn, đặc biệt là nhận thức về mục tiêu, mô hình chủ nghĩa xã hội. Chưa bao giờ thế và lực của đất nước ta mạnh như hiện nay. Điều này khẳng định chúng ta đang đi trên con đường đúng và phát triển được những thành tựu, những bài học trong Cách mạng Tháng Tám.

Bên cạnh những thành tựu cần được ghi nhận đó, chúng ta cũng có rất nhiều thách thức. Theo ông, đâu là những thách thức nổi bật nhất?

Hiện nay, đất nước ta đứng trước một số thách thức. Thứ nhất là nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa trong nhận thức và trong hành động như thiếu niềm tin vào con đường xã hội chủ nghĩa, xây dựng kinh tế, văn hóa không đúng những chuẩn mực đưa ra. 

Thứ hai là nền kinh tế tuy phát triển nhanh, thu nhập quốc dân tăng gấp 20 lần so với năm 1986, thu nhập bình quân đầu người cũng tăng hơn 10 lần, nhưng quy mô, năng suất lao động thấp, chất lượng hiệu quả nền kinh tế càng thấp, giá trị gia tăng nền kinh tế không nhiều, vẫn còn tập trung khai thác tài nguyên, phát triển kinh tế theo hướng gia công, nhận nguyên liệu nước ngoài về xuất khẩu, giá trị gia tăng không nhiều, năng lực cạnh tranh thấp, tình trạng nợ công cao và nguy cơ tụt hậu xa hơn so với các nước.

Thứ ba là vấn đề xã hội, tuy đời sống xã hội đã được cải thiện nhưng phân hóa giàu nghèo còn khá nặng, chênh nhau mấy chục lần, dẫn đến bất bình đẳng trong xã hội, phân hóa đạo đức, văn hóa trong xã hội. 

Thứ tư là tha hóa về đạo đức lối sống trong xã hội. Thứ năm là tha hóa về chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ trong hệ thống chính trị. Đây là khuyết điểm trong xây dựng Đảng. Sự tha hóa thoái hóa, biến chất đe dọa vai trò lãnh đạo của Đảng, sự tồn vong của chế độ. 

Thứ sáu là sự chống phá của các lực lượng như diễn biến hòa bình, cũng như sự đe dọa về độc lập chủ quyền thống nhất, chủ quyền biển đảo. Trước tình hình quốc tế phức tạp, khó lường, khi phát triển kinh tế thì Việt Nam cần phải quan tâm chăm lo chiến lược bảo vệ Tổ quốc.

Để bảo vệ thành quả Cách mạng, chúng ta cần những động lực gì để đổi mới và phát triển?

Trước đây, công cuộc đổi mới có động lực chính là lợi ích kinh tế, thúc đẩy kinh tế phát triển từ nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ… Hiện nay, lợi ích kinh tế cũng vẫn là một động lực, phải biết khai thác để không rơi vào tình trạng trì trệ, triệt tiêu mất động lực của người lao động. Ngoài ra, bây giờ còn có một số động lực khác nữa. 

Cụ thể là sự dân chủ, xã hội dân chủ cởi mở, mọi người tham gia vào hoạt động đời sống chính trị, kinh tế, xã hội đất nước, phải tập trung hoàn thiện dân chủ xã hội chủ nghĩa. Tiềm năng trí tuệ cũng là một động lực. Làm chủ được trí tuệ thì nhất định đất nước mình sẽ phát triển mạnh. Trí tuệ gắn với đào tạo nhân lực. Sau 30 năm đổi mới, bây giờ Đảng ta vẫn tiếp tục đổi mới, nhưng phải kế thừa 9 thành tựu, 5 bài học đổi mới đã tổng kết để đưa vào văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XII.

Theo tôi, có hai mảng lớn là làm rõ lí luận, làm rõ vấn đề mô hình, mục tiêu, phương hướng, bước đi, và làm rõ những vấn đề cụ thể của đổi mới. Cụ thể, cần làm rõ hơn khái niệm kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa để đảm bảo quan hệ biện chứng, quan hệ hữu cơ của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Xung quanh vấn đề về công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với kinh tế tri thức, công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải hướng tới kinh tế tri thức, bởi vậy, cần làm rõ mối quan hệ giữa công nghiệp hóa, hiện đại hóa và kinh tế tri thức như thế nào(?)

Về chính trị, Nhà nước pháp quyền, dân chủ xã hội chủ nghĩa, Đảng cộng sản cầm quyền cần chú ý quan tâm kể cả lí luận và thực tiễn về những vấn đề thời đại. Theo tôi, đây là một yếu tố rất quan trọng. Thời đại của chúng ta quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, hội nhập quốc tế là một nội dung thời đại, cần hướng tới mục tiêu chung là hòa bình hợp tác phát triển. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn tồn tại chiến tranh, xung đột, sắc tộc, chủ nghĩa khủng bố, tranh chấp lãnh thổ biển đảo, lợi ích, tài nguyên. Cần nghiên cứu đầy đủ tồn tại thực tế để định hình các bước đi của đổi mới phù hợp với thời đại. Bởi vì ở bất kì một thời kì lịch sử nào, dân tộc nào muốn phát triển cũng không thể tách rời sự phát triển chung của thế giới.

Chân thành cảm ơn ông!

 

70 năm và 3 phạm trù cơ bản

PGS.TSKH Nguyễn Trọng Phúc cho rằng: “Có thể khái quát 70 năm Cách mạng Tháng Tám bằng 3 phạm trù cơ bản cần chú ý, đó là tư tưởng Hồ Chí Minh, đạo đức Hồ Chí Minh và thời đại Hồ Chí Minh”.

Dưới góc nhìn lịch sử Đảng, ông Phúc chia sẻ: Thời đại Hồ Chí Minh, thời đại độc lập của dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội có 3 vấn đề lớn. Thứ nhất, thực hiện khát vọng độc lập tự do, sau này Bác Hồ khái quát thành triết lí “ Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Ở đây, chúng ta phải chú ý đến Tuyên ngôn Độc lập bởi có ý nghĩa rất đặc biệt. Khi Bác dẫn Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp, sau khi nói đến quyền con người, Bác đã khái quát thành quyền dân tộc -“Tất cả dân tộc trên thế giới sinh ra đều có quyền bình đẳng”.

 “Suốt từ năm 1945 đến nay, Việt Nam đã tiến hành hai cuộc kháng chiến để bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ. Đó chính là khát vọng độc lập, tự do. Các dân tộc trong thời đại hiện nay rất chú ý đến triết lí này vì những nước nhỏ dễ bị bắt nạt luôn hướng tới khát vọng tự do. Trong công cuộc hội nhập quốc tế ngày nay, toàn cầu hóa chi phối đời sống chính trị đối với một số nước nhỏ nhưng các nước này vẫn phải khẳng định độc lập, chủ quyền của mình” – PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc cho biết.

Vấn đề thứ hai được đúc kết sau 70 năm Cách mạng Tháng Tám là nhân dân ta được làm chủ đất nước. Xác định rõ vai trò của dân, sự nghiệp cách mạng của dân, xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân nên Bác Hồ chọn chính thể là nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Một ngày sau lễ tuyên bố độc lập, ngày 3/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ”.

Vấn đề thứ ba là con đường phát triển từ sau Cách mạng Tháng Tám đến nay. “Chính con đường phát triển ấy tạo tiền đề để từng bước đi lên chủ nghĩa xã hội, giải quyết triệt để các vấn đề tồn tại như việc người lao động phải chịu áp bức bất công, và hướng tới xây dựng một xã hội công bằng, tốt đẹp, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, văn minh. Hiện giờ, nước ta đang hoàn thiện mô hình chủ nghĩa xã hội, làm rõ những vấn đề lí luận thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc chia sẻ thêm.

 


(Theo Báo Bưu điện Việt Nam số 104 - 105 ra ngày Thứ Hai, 31/8/2015)

Hiểu Khuê (ghi)