Đã có nhiều bài học từ cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1997 và 2000, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã vượt qua thành công cuộc đại suy thoái năm 2008.

Được thành lập gần 50 năm trước, ASEAN ra đời với mục đích tăng cường sự ổn định kinh tế và chính trị của khu vực. Những thách thức đầu tiên khi tổ chức này thành lập chủ yếu là về chính trị, cho đến những năm 1990, ASEAN bắt đầu nỗ lực thúc đẩy quá trình tự do hóa thương mại trong khu vực bằng việc mở rộng quy mô thành viên. Những nỗ lực này đã tạo ra hiện tượng phát triển kinh tế vượt bậc trong các nước Đông Nam Á trong những năm 1990, giúp khu vực này trở thành “những con hổ châu Á”.

ASEAN đã có nhiều kinh nghiệm đối phó với khủng hoảng kinh tế. Nguồn: Shuttershock

Các dòng vốn nước ngoài bắt đầu đổ vào khu vực trong những năm đầu thập niên 90 khi các nhà đầu tư nhìn thấy cơ hội kiếm được lợi nhuận khủng. Tuy nhiên, tình trạng màu hồng này không kéo dài được lâu, mọi thứ bắt đầu tụt dốc và rơi vào khủng hoảng trong năm 1997.

Cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997 cho đến nay được xem là “độc nhất vô nhị” bởi hậu quả tàn phá mà nó mang lại chủ yếu chỉ xảy ra trong khu vực. Đông Á và khu vực Thái Bình Dương chỉ giao dịch  khoảng 11%, trong khi khu vực Đông Nam Á chỉ hoạt động được khoảng 30% trong năm 1998. Cùng lúc đó, phần còn lại của thế giới tiếp tục tăng trưởng với tốc độ chóng mặt. Trong vòng 2 năm, quá trình phục hồi kinh tế của ASEAN lại bị ngưng trệ bởi sự cố máy tính năm 2000 cùng với các thảm họa thiên nhiên liên tiếp đổ xuống khu vực này.

Đến năm 2008, cả thế giới vẫn chưa được chuẩn bị gì cho cuộc đại khủng hoảng. Cuộc suy thoái này còn sâu rộng hơn sự kiện năm 1929 và mặc dù tốc độ hồi phục nhanh hơn so với thời kỳ đó nhưng cho đến giờ, sự hồi phục đó vẫn chưa hoàn thiện và phân bố không đều giữa các quốc gia và khu vực.

Điều đáng nói là, cách ứng xử của các quốc gia khu vực Đông Nam Á trong cuộc khủng hoảng 2008 hoàn toàn khác so với năm 1997 và 2000. Sau năm 2008, phần còn lại của thế giới phải trải qua giai đoạn suy thoái kinh tế rất nghiêm trọng trong khi đó mặc dù tốc độ tăng trưởng của ASEAN không quá cao nhưng đáng chú ý là khu vực này không hề hấn gì. Các nghiên cứu cho thấy Đông Nam Á rõ ràng trở nên “đàn hồi” hơn sau các cú sốc liên tiếp và khu vực này đã rút ra được những bài học quan trọng.

Bài học quan trọng nhất là nuôi dưỡng một nền thương mại quốc tế đủ vững chắc để có thể chống đỡ được các cú sốc khác nhau. Các nghiên cứu cho thấy những biện pháp bảo hộ có xu hướng tồn tại lâu dài hơn sau khi phục hồi khủng hoảng và hiệu quả hơn trong tăng trưởng kinh tế lâu dài. 

Thay vì dựng lên những rào cản thương mại, các quốc gia Đông Nam Á lại tiến lên phía trước và thiết lập hàng loạt mối quan hệ kinh tế quốc tế trực tiếp với các nước khác trong khu vực trong những năm 1990. Xu hướng này vẫn tiếp tục mang lại kết quả tốt trong những năm 2000, tạo nên một hệ thống thương mại khu vực mạnh mẽ và liên kết, qua đó giúp ASEAN có thể chịu đựng được những cú sốc và giúp nền kinh tế vượt qua những tổn thương.

Ngoài ra, ASEAN còn tham gia tích tực vào việc giao thương quốc tế với các quốc gia khác. Trong khi một số nước như Myanmar và Lào vẫn tiếp tục hoạt động trong hệ thống thương mại khu vực thì phần lớn các quốc gia Đông Nam Á khác tham gia rất tích cực các hợp tác thương mại với mức độ rộng lớn hơn.

Tất nhiên, việc thúc đẩy thương mại quốc tế gần gũi hơn có nghĩa là phát triển các ngành công nghiệp mang tính toàn cầu hóa. Đông Nam Á luôn có một thế mạnh xuất khẩu, thành công trong việc điều chỉnh tỷ giá hợp lý, có nguồn lao động chất lượng cao cùng nhiều nguồn lực khác để phát triển nền công nghiệp chú trọng xuất khẩu. Điều này cho phép ASEAN tận dụng được lợi thế đầy đủ để tham gia xu hướng các tập đoàn đa quốc gia, thuê lại các nguồn lực bên ngoài cũng như thiết lâoj thêm các chuỗi giá trị rải rác toàn cầu.

Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) đóng vai trò thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế quốc tế, cả ở trong khu vực và phần còn lại của thế giới. Các nhà lãnh đạo ASEAN cần tăng cường hỗ trợ toàn diện cho việc thực thi nhiệm vụ của AEC. Điều này sẽ giúp khu vực giữ được mức tăng trưởng kinh tế ổn định và mở đường cho sự phát triển bền vững, lâu dài. 

Australia và các quốc gia khác trên thế giới cũng có thể hỗ trợ bằng cách tương tác tốt hơn với khu vực Đông Nam Á, đóng góp thêm vào việc xây dựng một nền kinh tế toàn cầu có sức bật và có khả năng kết nối hơn.

Nội dung được thực hiện qua tham khảo nguồn tin The Diplomat, một tạp chí có trụ sở ở Tokyo, chuyên về chính trị, văn hóa và xã hội tại khu vực Châu Á-Thái Bình Dương.

Tuệ Minh (lược dịch)