North American B-45 Tornado là máy bay ném bom phản lực đầu tiên được đưa vào hoạt động trong Không quân Mỹ (USAF) và là máy bay ném bom sử dụng động cơ phản lực đầu tiên trên thế giới có thể tiếp nhiên liệu trên không.
B-45 là một phần quan trọng trong kho vũ khí răn đe hạt nhân của Mỹ trong nhiều năm, từ năm 1950, nhưng đã sớm bị thay thế bởi các máy bay Boeing B-47 Stratojet. B-45 và RB-45 phục vụ trong Lực lượng Chỉ huy Không quân chiến lược Mỹ (SAC) từ năm 1950 cho đến năm 1959. Đây cũng là máy bay ném bom phản lực đầu tiên của Liên minh NATO, được hình thành vào năm 1949.

B-45 bắt đầu phát triển vào năm 1944, khi Bộ Chiến tranh Mỹ đặt cảnh báo với máy bay ném bom phản lực của Đức như Arado Ar 234 và kêu gọi các nhà thầu chế tạo thế hệ mới cho máy bay ném bom. Yêu cầu đặt ra là một máy bay ném bom phản lực có tổng trọng lượng là 36.287 kg và trọng lượng tối đa khi cất cánh là  90.718 kg. Đề xuất NA-130 của North American Aviation đã chiến thắng và vào ngày 08 tháng 9 năm 1944, công ty bắt đầu sản xuất 3 nguyên mẫu dựa trên NA-130.

Convair XB-46-đối thủ trực tiếp của XB-45

Sự kết thúc của Chiến tranh Thế giới thứ 2 đã hủy bỏ nhiều dự án chế tạo vũ khí và trì hoãn nhiều dự án khác. Năm 1946, vì gia tăng căng thẳng với Liên Xô nên Không quân Mỹ để gán ưu tiên cao hơn trong việc phát triển và sản xuất máy bay ném bom phản lực. Đến giữa năm 1946, chiếc XB-45 và Convair XB-46 gần hoàn thành, nhưng Boeing XB-47 và Martin XB-48 là vẫn còn hai năm nữa. Không quân Mỹ đã chọn 2 mẫu thiết kế đầu tiên để đánh giá và xác định máy bay nào sẽ được đưa vào hoạt động. 

Chiếc B-45 đã chứng minh một thiết kế cao cấp, và vào ngày 02 tháng 1 năm 1947, hợp đồng sản xuất trực tiếp cho B-45A đã được ký kết. Nó đã được lên kế hoạch trang bị 5 cho phi đội ném bom hạng nhẹ và 3 phi đội trinh sát hạng nhẹ bằng B-45A, nhưng khi B-47 được phát triển và máy bay bay thử nghiệm đang được thực hiện sản xuất khiến tương lai của B-45 đã trở nên ngày càng không chắc chắn, và vào giữa năm 1948, Không quân Mỹ bắt đầu đặt câu hỏi về giá trị của B-45. Ngay sau đó, những hạn chế ngân sách của Tổng thống Truman đã giảm chi tiêu và chương trình sản xuất B-45 được giảm xuống còn tổng cộng 142 khung máy bay. Việc cắt giảm ngân sách tiếp tục vào năm 1950 buộc hủy 51 khung máy bay trong tổng số 190 khung được đặt hàng. Chiếc B-45 sau đó đã được thay thế bằng máy bay ném bom siêu âm Convair B-58 Hustler.

B-45 Tornado đầu tiên đi vào phục vụ trong Lực lượng Chỉ huy Không quân Chiến lược trong tháng 11 năm 1948 và chiếc cuối cùng nghỉ hưu là vào năm 1959. Không quân Mỹ hoạt động tổng cộng 142 chiếc B-45 trong các phiên bản khác nhau. Chương trình B-45 bao gồm 3 phiên bản thử nghiệm XB-45 (một trong số đó đã được hoàn thành như một phien bản tiền sản xuất), 96 chiếc B-45A (một số trong đó được đặt tên là B-45A-5 vì được cải tiến trong sản xuất), 10 chiếc B-45C và 33 chiếc RB-45C. Các máy bay này được sản xuất bởi North American Aviation, Incorporated, Inglewood, California, với hầu hết các máy bay được chế tạo trong một cơ sở Douglas cũ tại Long Beach, California.

Bản vẽ chi tiết bên trong của B-45A

B-45 phục vụ tốt trong chiến tranh Triều Tiên ở vai trò là máy bay do thám. Các phiên bản do thám có tên là RB-45C và được sử dụng bởi Lực lượng Chỉ huy Không quân Chiến lược. RB-45C thực hiện các nhiệm vụ bí mật, thâm nhập sâu nhiều quốc gia trong Chiến tranh Lạnh để cugn cấp các hình ảnh tình báo về những quốc gia đó. Phiên bản do thám RB-45C đã trở thành tiền thân của nhiều máy bay do thám, trong đó có cả U-2 Dragonfly và SR-71 Blackbird.

Máy bay do thám RB-45C

Mặc dù có rất nhiều chức năng thứ cấp có giá trị, B-45 vẫn không đạt được nhiều kỳ vọng ở trong Không quân. Toàn bộ các phiên bản B-45 đã được cho nghỉ hưu vào năm  1959. Tuy nhiên, những chiếc B-45 vẫn giữ một vị trí trong lịch sử hàng không như máy bay ném bom phản lực đầu tiên của Không quân. 

Các phiên bản của B-45 Tornado

XB-45

Chuyến bay đầu tiên của chiếc XB-45 là ngày 17 tháng 3 năm 1947 ở sân bay Muroc Army. Có tổng cộng 131 chuyến bay thử nghiệm được thực hiện với 3 nguyên mẫu XB-45, trong đó có một chiếc bị tai nạn, giết chết 2 phi công.

Nguyên mẫu đầu tiên XB-45 (c/n 45-59479)

Không quân Mỹ chấp nhận một trong hai chiếc máy bay còn lại vào ngày 30 tháng 7 năm 1948, chiếc kia  vào ngày 31 tháng 8. Một chiếc đã bị hư hỏng không thể sửa chữa trong một tai nạn. Chiếc XB-45 cuối cùng đã được chuyển tới Căn cứ không quân Wright-Patterson vào năm 1949. Tuy nhiên có quá nhiều khó khăn để duy trì bay và đã được sử dụng làm máy bay huấn luyện dưới mặt đất.

Có 3 máy bay XB-45 (c/n 45-59479,  45-59480, 45-59481).

XB-45 (c/n 45-59479) thử nghiệm cất cánh với động cơ rocket đẩy hỗ trợ cất cánh 

B-45A

Chiếc B-45A khác với XB-45 là được trang bị ghế phóng và thiết bị thông tin liên lạc, hệ thống điều khiển bay tự động E-4 và radar dẫn đường/ ném bom AN/APQ-24.

Chiếc B-45A sản xuất đầu tiên (c/n 47-001) bay vào tháng 2 năm 1948, và Không quân đã nhận 22 chiếc B-45A trong tháng 4 năm 1948. B-45A sử dụng động cơ phản lực J35 và mặc dù đưa vào hoạt động nhưng B-45A vẫn chưa sẵn sàng chiến đấu, nó được giao cho nhiệm vụ đào tạo và tiến hành các chương trình thử nghiệm khác nhau. Các đợt sản xuất tiếp theo được trang bị động cơ phản lực J47 mạnh mẽ hơn. Chiếc B-45A đầu tiên đi vào hoạt động vào tháng 11 năm 1948 với Phi đội ném bom số 47 và ban đầu có 96 chiếc được hoàn thành vào tháng 3 năm 1950. 

Phi đội ném bom số 47 với những chiếc B-45A-5

55 chiếc B-45A với khả năng tấn công hạt nhân bay đến Anh vào năm 1952. Chúng được sửa đổi với một bình nhiên liệu 4542 lít ở khoang chứa bom phía sau. Mặc dù có vấn đề về kỹ thuật nhưng những chiếc B-45A này là những máy bay răn đe hạt nhân đầu tiên hoạt động ở ngoài chiến tuyến châu Âu của Lực lượng Chỉ huy Không quân Chiến thuật.

Có tổng cộng 96 máy bay B-45A đượcsản xuất (c/n 47-001 đến c/n 47-097).

B-45A-1: c/n 47-001 đến c/n 47-022 (21 máy bay).

B-45A-5: c/n 47-023 đến c/n 47-096 (73 máy bay).

B-45A: c/n 47-097 (khung thử nghiệm tĩnh).

Chiếc B-45A-5 (c/n 47-096) được dùng để thử nghiệm động cơ Westinghouse J34. Chiếc này được đặt tên là JB-45A

B-45B

Một phiên bản nâng cấp từ B-45A với các hệ thống điều khiển hỏa lực. Không có chiếc nào được sản xuất.

B-45C

Chiếc B-45C là máy bay ném bom phản lực đầu tiên trên thế giới có khả năng tiếp nhiên liệu trên không. Nó mang 2 thùng nhiên liệu phụ 4.542 lít ở đầu cánh và một lỗ tiếp nhiên liệu trên không trên lưng máy bay. Chiếc B-45C đầu tiên bay vào tháng 3 năm 1949. Chỉ có 10 chiếc được chế tạo cho nhiệm vụ ném bom (c/n 48-001 đến c/n 48-010),  còn lại 33 chiếc được chuyển đổi sang RB-45C.

Máy bay ném bom B-45C (c/n 48-010)

RB-45C

RB-45C là phiên bản sản xuất cuối cùng của B-45 Tornado và được sử dụng làm máy bay do thám thay vì ném bom. Nắp buồng ngắm bom của sĩ quan ném bom được thiết kế lại và thay thế bằng một hệ thống camera chụp nghiêng. RB-45C mang 2 thùng nhiên liệu phụ 810 lít hoặc hai rocket hỗ trợ cất cánh JATO. Nó có thể mang tới 12 máy ảnh trong 4 vị trí, hoặc một máy ảnh duy nhất với một ống kính có tiêu cự 2,5m. RB-45C bay lần đầu tiên vào tháng 4 năm 1950 và được chuyển giao từ tháng 6 năm 1950 đến tháng 10 năm 1951. 33 chiếc được chuyển đổi từ B-45C (c/n 48-011 đến c/n 48-043).

Máy bay do thám RB-45C (c/n 48-017)

Các thiết bị do thám và máy chụp hình trên RB-45C 

Thông số kỹ thuật cơ bản:

Phi hành đoàn: 4 người.

Dài: 22,96m.

Sải cánh: 27,14m.

Cao: 7,67m.

Diện tích cánh: 104,5m2.

Trọng lượng cất cánh tối đa: 49.900kg.

Động cơ:

-          4 động cơ phản lực General Electric J47-GE-13 với lực đẩy 25kN mỗi cái.

Tốc độ tối đa: 920km/h.

Tầm hoạt động: 1.610km.

Trần bay: 14.100m.

Tốc độ leo cao: 1.810m/phút.

Vũ khí:

-          2 súng máy 12,7mm M3.

-          10.000kg bom, có khả năng mang bom hạt nhân chiến thuật Mark 7.

Tri Năng