Trong bài viết này có mô tả 1 phương pháp chữa lỵ, tiêu chảy, tả, viêm ruột thừa, viêm loét dạ dày được cấp bằng sáng chế chỉ dùng 1 nguyên liệu duy nhất là vỏ lựu khô.

1. Bài thuốc chữa viêm ruột thừa cấp tính chỉ 5h, chữa viêm loét dạ dày, đại tràng chỉ 7 ngày là khỏi

Theo tờ VTC News đưa tin, vào tháng 12/1999, 1 tạp chí của Nga đã đăng tải bài viết "The Forgetten Hippocrate and treatmine plants", được viết bởi 1 thầy thuốc y học cổ truyền tên là GL Glubok.

Trong bài viết này có mô tả 1 phương pháp chữa lỵ, tiêu chảy, tả, viêm ruột thừa, viêm loét dạ dày được chứng nhận hiệu quả và được cấp bằng sáng chế trong đó chỉ dùng 1 nguyên liệu duy nhất là vỏ lựu khô.

Bài thuốc như sau: Dùng 10 - 12g vỏ lựu phơi khô cho vào 200ml nước sôi, đậy kín lại để trong vòng 25 - 30 phút. Vị thuốc này dùng để chữa các bệnh về đường tiêu hóa, dạ dày như:

- Chữa kiết lỵ, tiêu chảy, sốt thương hàn, dịch tả, viêm ruột thừa cấp tính: Uống nửa ly nước đã ngâm (100ml), sau 10 phút các triệu chứng sẽ thuyên giảm.

Nếu không khỏi hẳn, có thể uống nốt ly nước sau 3 giờ. Kết quả sẽ được cảm nhận rõ ràng sau 5 giờ uống loại nước này.

Chữa viêm loét dạ dày, loét ruột non, viêm đại tràng: Uống 25ml nước này vào các thời điểm sáng, trưa, chiều, tối lúc còn đói bụng. Hiệu quả chỉ sau 7 ngày uống liên tục, các triệu chứng viêm loét dạ dày, ruột non, đại tràng sẽ lành hoàn toàn.

Tuy nhiên, nếu muốn tiếp tục điều trị, có thể thực hiện theo liệu trình 1 tuần làm 1 tuần nghỉ.

Lưu ý:

– Để công thức trên phát huy công dụng toàn diện, hãy lựa những quả lựu sạch, không hóa chất, lột lấy vỏ và phơi khô để sử dụng dần.

– Trong quá trình thực hiện, người bệnh tuyệt đối không được uống rượu bia, còn lại ăn uống hoàn toàn bình thường .

2. Phân tích cơ sở của bài thuốc:

Quả lựu, còn được gọi tên là thạch lựu, tên khoa học là Punica granatum L., thuộc họ Lựu - Punicaceae.

Quả lựu từ lâu đã được sử dụng để làm thuốc cả trong dân gian và trong Đông y cổ truyền, bộ phận dùng làm thuốc bao gồm cả vỏ cây, vỏ rễ, hoa, thịt quả nhưng chủ yếu là vỏ quả lựu, còn được gọi là thạch lựu bì, có tên khoa học là Pericarpium Granati.

Theo cuốn "Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam" của GS Đỗ Tất Lợi, thành phần hóa học của lựu bao gồm:

Vỏ rễ chứa một hàm lượng tanin cao (2%) và 0,5-0,7% alcaloid toàn phần trong đó có pelletierin, isopelletierin, methylpelletierin và pseudopelletierin. Isopelletierin là alcaloid có hoạt tính trị giun cao.

Vỏ thân cũng chứa pelletierin và các alcaloid khác nhưng hàm lượng thấp hơn. Còn có acid betulic và 3 chất base khác.

Vỏ quả chứa granatin, acid betulic, acid ursolic và isoquercetin.

Dịch quả chứa acid citric, acid malic và các chất đường glucose, fructose, maltose.

Tính vị, tác dụng: Vỏ quả có vị chua, chát, tính ấm; có tác dụng sáp trường chỉ tả, chỉ huyết, khu trùng. Vỏ thân và vỏ rễ có vị đắng, chát, tính ấm, có độc; có tác dụng sát trùng trừ sán.

Công dụng: Vỏ quả được dùng trị ỉa chảy và lỵ ra huyết, đái ra máu, băng huyết, bạch đới, thoát giang, đau bụng giun. Ngày dùng 15-30g dạng thuốc sắc, cũng thường phối hợp với các chất thơm.

Theo lương y Huyên Thảo, vỏ quả lựu được Đông y xếp vào nhóm có vị chua chát, tính ấm, vào 2 kinh đại tràng và thận. Có tác dụng sáp tràng chỉ tả (làm săn niêm mạc ruột để chống ỉa chảy), chỉ huyết (cầm máu), sát trùng, chỉ dương (chống ngứa).

Trong Đông y truyền thống thạch lựu bì thường dùng chữa kiết lỵ lâu ngày, đại tiện ra máu, lòi rom, hoạt dinh, băng lậu, đới hạ, đau bụng do giun, lở ngứa ngoài da.

Hiện tại, khi kết hợp Đông - Tây y trong điều trị, thạch lựu bì thường được sử dụng để chữa viêm kết tràng mạn tính, lỵ nhiễm khuẩn mạn tính, lỵ amip, xuất huyết đường tiêu hóa, xuất huyết tử cung...

Như vậy, đối chứng với công dụng của vị thuốc thạch lựu bì đã được y học cổ truyền và y học hiện đại chứng nhận, có thể thấy rằng bài thuốc nêu trên không phải không có cơ sở.

Tuy nhiên, sử dụng như thế nào và hiệu quả đến đâu vẫn cần được các chuyên gia nghiên cứu và chứng nhận.

 


Theo Trí Thức Trẻ