Viêm tuyến tiền liệt (TTL) là một bệnh thường gặp ở tuổi thành niên. Bệnh phân ra 2 loại: viêm TTL cấp tính và viêm TTL mãn tính.

Viêm tuyến tiền liệt (TTL) cấp tính thường lá thứ phát của viêm niệu đạo, viêm tinh nang, viêm mào tinh hoàn, viêm bàng quang hoặc viêm các vùng lân cận trực tràng. Vi khuẩn gây bệnh thường là các loại tụ cầu khuẩn, trực khuẩn đại tràng và trực khuẩn loại bạch hầu.

Theo Đông y, viêm TTL cấp là do cảm nhiễm độc tà, thấp nhiệt ở vùng hạ tiêu làm cho kinh lạc bị bế tắc, khí huyết bị ứ trệ, khí hóa vùng bàng quang bị rối loạn.

Triệu chứng: đi tiểu nhiều lần, tiểu gấp, tiểu buốt, có khi nước tiểu có máu, sau khi tiểu còn bị nhỏ giọt. Người phát sốt, sợ lạnh, đau đầu, nhức mỏi toàn thân, có cảm giác đầy tức ở vùng hội âm, đau xuyên qua vùng xương cùng, dương vật và phía trong đùi.

Phép trị và bài thuốc:

Nếu do cảm nhiễm thấp nhiệt (khí nóng và ẩm tạo điều kiện dễ bị viêm nhiễm ), dùng phép thanh nhiệt, lợi thấp, giải độc để chữa.

Bài thuốc 1: Long đởm tả can thang, gồm có: long đởm thảo 6 - 8g, sơn chi tử 8 - 16g, hoàng cầm 8 - 16g, sài hồ 4 - 12g, đương quy 8 - 16g, sinh địa 12 - 20g, trạch tả 8 - 16g, xa tiền tử 12 - 20g, mộc thông 4 - 8g, cam thảo 4 - 8g. Nấu với 750ml nước, sắc còn 300ml, chia 2 lần uống trước bữa ăn.

Trong bài thuốc này, long đởm thảo là vị thuốc khổ hàn (vị đắng, tính lạnh), chuyên dùng để tả thực hỏa ở can đởm và trừ thấp nhiệt ở hạ tiêu, phối hợp với các vị thuốc hoàng cầm, chi tử làm tăng tác dụng tả hỏa thanh nhiệt, thêm các vị thanh nhiệt lợi thủy như trạch tả, mộc thông, xa tiền tử giúp trục được thấp nhiệt theo ra đường tiểu.

Các vị thuốc sài hồ, đương quy, sinh địa trong bài thuốc có tác dụng sơ can, hoạt huyết, lương huyết, dưỡng âm, giúp điều hòa tác dụng của bài thuốc, không làm thương tổn âm huyết.

Bài thuốc 2: Tỳ giải phân thanh ẩm gia giảm, gồm có: tỳ giải 12g, ô dược 12g, ích trí nhân 12g, thạch xương bồ 4 - 12g, bạch phục linh 12g, xa tiền tử 12 - 16g, bạch mao căn (rễ cỏ tranh) 12 - 16g, cam thảo 4 - 8g.

Nấu với 750 ml nuớc, sắc còn 300 ml, chia 2 lần uống trước bữa ăn.

Trong bài thuốc này, vị thuốc tỳ giải có tác dụng lợi thấp thường dùng chữa tiểu đục, tiểu buốt, nên dược chọn làm chủ dược của phương, phối hợp với các vị thuốc như: ích trí nhân để hóa khí thông lâm; thạch xương bồ để thông khiếu hóa trọc; ô duợc để phân thanh giáng trọc; cùng với các vị thuốc như xa tiền tử, bạch mao căn, bạch phục linh, có tác dụng giúp điều hòa khí hóa ở thận và bàng quang, lợi tiểu, trừ thấp nhiệt ở hạ tiêu, rất có hiệu quả.

Thục địa

Nếu khí huyết bị ứ trệ thì dùng phép hoạt huyết hóa ứ, lý khí đạo trệ để chữa.

Đan sâm.

Bài thuốc 1: Tuyến tiền liệt viêm thang, gồm có: đan sâm 12 - 16g, bạch chỉ 8 - 12g, xích thược 8 - 12g, đào nhân 8 - 12g, hồng hoa 8 - 12g, thanh bì 6 - 8g, xuyên luyện tử 4 - 6g, nhũ hương 4-6g, một dược 4 - 6g, vương bất lưu hành 12 - 16g, tiểu hồi 2 - 4g, trạch tả 12 - 16g.

Nấu với 750ml nước, sắc còn 300ml, chia 2 lần uống trước bữa ăn.

Bài thuốc 2: Tiểu kế ẩm tử, gồm có: sinh địa hoàng 20 - 30g, hoạt thạch 16 - 20g, bồ hoàng (sao) 8 - 12g, ngẫu tiết (mắt ngó sen) 12g, sơn chi tử 8 - 12g, tiểu kế 12 - 16g, mộc thông 6 - 12g, đạm trúc diệp 8 - 12g, đương quy (tẩm rượu sao) 12g, cam thảo (chích mật) 4g.

Nấu với 750ml nước, sắc còn 300 ml, chia 2 lần uống trước bữa ăn.

 


Theo Sức khỏe & Đời sống