Theo Bộ Nội vụ, hiện cả nước có trên 50 nghìn hội hoạt động nhưng vẫn còn nhiều bất cập trong công tác quản lý nên cần có Luật về hội.

Tờ trình của Bộ Nội vụ với Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Dự án Luật về hội cho biết, tính đến tháng 12 năm 2014 cả nước có 52.565 hội (483 hội hoạt động phạm vi cả nước và 52.082 hội hoạt động phạm vi địa phương), trong đó có 8.792 hội có tính chất đặc thù (28 hội hoạt động phạm vi cả nước và 8.764 hội hoạt động phạm vi địa phương). Một số hội đã được xác định là tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp và 10 hội được thành lập đảng, đoàn để lãnh đạo hoạt động; các hội còn lại được xác định là tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nhân đạo.

Về cơ bản, mô hình tổ chức và hoạt động của các hội là phù hợp với quy mô, tính chất, vai trò của từng hội. Nhiều hội đã phát huy tốt vai trò tập hợp, đoàn kết hội viên, có đóng góp tích cực vào việc bảo vệ, xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước,  bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hội viên.

Một buổi tọa đàm về các nội dung liên quan đến Luật về hội trước khi dự thảo Luật này được trình UBTVQH.

Tuy nhiên, đến nay công tác quản lý nhà nước về hội và tình hình tổ chức, hoạt động của các hội còn có những bất cập. 

Bất cập đầu tiên là hệ thống pháp luật về hội và trong tổ chức, hoạt động của hội. Theo Sắc lệnh số 102/SL/L004 được ban hành từ năm 1957 vẫn còn hiệu lực, đến nay nhiều quy định của Sắc lệnh đã không còn phù hợp với thực tiễn tổ chức, hoạt động của hội đã có nhiều thay đổi trong gần 60 năm qua. Hệ thống pháp luật hiện hành về hội chưa đồng bộ (các hội nói chung được điều chỉnh bằng văn bản dưới luật theo Nghị định số 45/2010/NĐ-CP, riêng Liên đoàn Luật sư Việt Nam theo Luật Luật sư, Hiệp hội Công chứng theo Luật Công chứng); chưa có các quy định cụ thể về tạm đình chỉ hoạt động và thu hồi con dấu của hội khi tổ chức và hoạt động của hội vi phạm quy định của pháp luật và điều lệ hội; một số quy định về chính sách, chế độ đối với người làm việc tại hội còn bất cập;

Hiện các quy định hiện tại chưa phân biệt rõ các hội do Đảng và Nhà nước có nhu cầu thành lập được cấp kinh phí hoạt động với các hội khác hoạt động theo nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm và tự lo kinh phí. Nhiều hội hoạt động còn hình thức, chưa đáp ứng được nguyện vọng, lợi ích hợp pháp của hội viên, còn trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước, có xu hướng “hành chính hoá” trong tổ chức và hoạt động hội theo cấp hành chính.

Bất cập thứ 2 là so với quy định của Hiến pháp và quá trình hội nhập quốc tế. Hiến pháp năm 2013 quy định: "Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” (Điều 25) và "Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” (Khoản 2 Điều 14). Các quy định của Hiến pháp liên quan đến quyền lập hội của công dân nêu trên hiện nay chủ yếu được điều chỉnh bằng văn bản dưới luật (các Nghị định của Chính phủ, các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và các Thông tư của các Bộ liên quan).

P. Hoàng