Địa hình của Quân khu 3 bao gồm cả đồng bằng, rừng núi trung du và vùng biển đảo, là vùng đất giàu tiềm năng và thế mạnh, là một trong ba vùng kinh tế động lực của cả nước

 

Kiểm tra khả năng cơ động SSCĐ tại phân đội xe thiết giáp đóng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh (Quân khu 3)

Ngày truyền thống: 31/10/1945.

Quân khu 3 quản lý và chỉ huy các đơn vị bộ đội địa phương các tỉnh, huyện và dân quân tự vệ trong địa bàn của quân khu bảo vệ các tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng. Quân khu 3 có Tư lệnh và các Phó Tư lệnh, Chính uỷ và Phó Chính uỷ; các cơ quan chức năng đảm nhiệm các mặt công tác tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật, các sư đoàn và trung đoàn chủ lực và các đơn vị trực thuộc khác. 

Tư lệnh, Chính uỷ đầu tiên của Quân khu 3 là các đồng chí Hoàng Sâm, Trần Độ.

Tư lệnh Quân khu 3 hiện nay là Thiếu tướng Vũ Hải Sản

Luyện quân ở đơn vị hỏa lực thuộc Quân khu 3

Quân khu 3 gồm 9 tỉnh, thành phố là: Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Hoà Bình, Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nam, với 94 quận, huyện, thị xã và thành phố trực thuộc tỉnh (trong đó có 4 huyện đảo, 3 huyện, thành phố biên giới; có 1.821 xã, phường, thị trấn (trong đó có 30 xã đảo và 16 xã biên giới); diện tích tự nhiên của Quân khu 3 là 20.641 km2. Trên địa bàn quân khu có 23 dân tộc. Có 132,8 km đường biên giới trên bộ giáp với nước CHND Trung Hoa và 425 km bờ biển với trên 3.000 hòn đảo lớn nhỏ, án ngữ hướng biển Đông và Đông Bắc của Tổ quốc. Trên địa bàn Quân khu có các cảng lớn như: Cảng Hải Phòng, Cái Lân, Hòn Gai, Cẩm Phả, Cửa Ông (Quảng Ninh), Cảng Diêm Điền (Thái Bình)... là đầu mối giao thông quan trọng trong nước và quốc tế.

Địa hình của Quân khu 3 bao gồm cả đồng bằng, rừng núi trung du và vùng biển đảo, là vùng đất giàu tiềm năng và thế mạnh, là một trong ba vùng kinh tế động lực của cả nước, là nơi tập trung nhiều trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, trong đó có 2 trung tâm lớn là thành phố Hải Phòng và Quảng Ninh. 

Cán bộ Trung đoàn 43 (Sư đoàn 395) Quân khu 3 hướng dẫn chiến sĩ mới gấp vuốt chăn màn, sắp đặt quân tư trang cá nhân 

Ngày 29/5/1976, Chủ tịch nước cộng hoà XHCN Việt Nam ký sắc lệnh số 45/LCT hợp nhất Quân khu Tả Ngạn và Quân khu Hữu Ngạn để thành lập lại Quân khu 3 và điều chỉnh địa giới hành chính tách Thanh Hoá về thuộc Quân khu 4. Địa bàn Quân khu 3 gồm các tỉnh: Hải Hưng, Thái Bình, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hà Bắc, Hà Nam Ninh và Hà Sơn Bình.

Năm 1979, Chủ tịch nước ký Sắc lệnh số 71/LCT tách tỉnh Quảng Ninh ra khỏi Quân khu 1 để thành lập Đặc khu Quảng Ninh trực thuộc Trung ương.

Ngày 04/8/1987, Đảng uỷ Quân sự Trung ương (nay là Quân uỷ Trung ương) ra Nghị quyết số 154/NQ hợp nhất Đặc khu Quảng Ninh vào Quân khu 3. Những năm tiếp theo, địa giới Quân khu tiếp tục được điều chỉnh: tách Hà Tây về Quân khu Thủ đô, tách tỉnh Hải Hưng thành 2 tỉnh Hải Dương và Hưng Yên.

Kiểm tra công tác bảo quản, sửa chữa tại Phân xưởng vũ khí X56 (Cục Kỹ thuật Quân khu 3) 

Trong kháng chiến chống Pháp, Lực lượng vũ trang và nhân dân Liên khu 3, Khu Tả ngạn Sông Hồng đã phối hợp chặt chẽ với các đơn vị chủ lực, tiến hành nhiều chiến dịch lớn, xây dựng và phát động cuộc chiến tranh nhân dân với các trận đánh đã đi vào lịch sử như: Sấm Đường 5, Cát Bi nổi lửa, Đường 17, Đường 10, du kích Hoàng Ngân, các làng, xã chiến đấu nổi tiếng như: Nguyên Xá, Liên Minh, Hùng Thắng, Tam Nông... Quân và dân đồng bằng sông Hồng đã đánh 78.604 trận; đồng thời, tích cực chi viện sức người, sức của cho các chiến trường, cùng cả nước giành thắng lợi vẻ vang trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Trong kháng chiến chống Mỹ, quân và dân Quân khu 3 đã đoàn kết hiệp đồng, không những sản xuất giỏi mà còn chiến đấu tốt, phối hợp chặt chẽ với Quân chủng Hải quân, Quân chủng Phòng không - Không quân tạo nên thế trận phòng không nhân dân rộng khắp, đánh thắng ngay từ trận đầu 5/8, đập tan chiến dịch “Biển lửa”, “Mũi lao lửa”, “Rồng biển” và chiến dịch tập kích đường không chiến lược bằng B-52 của Mỹ, cùng quân và dân Thủ đô Hà Nội lập lên một “Điện Biên Phủ trên không”. 

Quân dân Quân khu 3 đã đánh 39.450 trận, bắn rơi 1.526 máy bay, bắn cháy, bắn chìm 75 tàu chiến Mỹ; rà phá, tháo gỡ 68.962 quả bom, mìn, thủy lôi (trong đó có 1.495 quả thủy lôi); chi viện cho các chiến trường, hàng triệu thanh niên, hàng chục vạn tấn lương thực và hàng hoá, góp phần cùng cả nước hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Hướng Minh (tổng hợp)