Nghệ An là tỉnh có số dân tộc thiểu số chiếm 15,2 % dân số toàn tỉnh nên việc chăm sóc, y tế và phát triển giáo dục luôn được tỉnh quan tâm.
Người Ơ du là dân tộc thiểu số ở Nghệ An

Trong những năm qua, vùng dân tộc thiểu số luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm trên tất cả các lĩnh vực đời sống, kinh tế - xã hội, được thể hiện bằng các chủ trương, chính sách, chương trình, dự án cụ thể. 

Tuy nhiên, những vùng dân tộc thiểu số có hạn chế đó là thời tiết rất khắc nghiệt, thường xuyên bị lũ ống, lũ quét, sạt lở, bão, lốc; hạn hán, khô cằn; dịch bệnh. Địa hình, địa bàn phức tạp, đi lại rất khó khăn; diện tích đất bằng phục vụ sản xuất và dân sinh không nhiều; một bộ phận dân cư không tập trung, họ sống trải dài trên diện tích rộng lớn nên suất đầu tư cho các công trình phục vụ sản xuất và đời sống không cao, một số tập tục lâu đời không từ bỏ. 

Theo thống kê, Nghệ An hiện nay có gồm 5 dân tộc thiểu số có dân số đông: Thái 299.490 người; Thổ 62.751 người; Khơ Mú 45.890 người; Mông 30.433 người; Ơ Đu 1.085 người; các dân tộc còn lại có 3.128 người. Diện tích vùng dân tộc thiểu số của Nghệ An và dân số đồng bào các dân thiểu số Nghệ An lớn hơn diện tích, dân số của một số tỉnh phía Bắc và Tây Nguyên.

Mặt khác, trong thực hiện chính sách hỗ trợ cho đồng bào các dân tộc thiểu số, phương châm "cho cái cần câu hơn cho xâu cá" vẫn còn giá trị thực tiễn. Thời gian vừa qua, phương châm "cho xâu cá" đã thực hiện khá tốt còn phương châm "cho cái cần câu" thì làm chưa tốt.

Nhưng nỗ lực của tỉnh cùng với các chính sách hỗ trợ, về cơ bản các dân tộc thiểu số tại Nghệ An cũng có những chuyển biến hơn đặc biệt là về mặt an sinh xã hội như y tế và giáo dục, đồng bào các dân tộc thiểu số đã có sự thay đổi.

Về y tế đội ngũ y tế tại các bệnh viện, các trạm y tế vùng dân tộc thiểu được tăng cường cả về số lượng và chất lượng. Số bác sỹ trên vạn dân đạt 3,9 bác sỹ, tăng 0,3 bác sỹ; số giường bệnh trên vạn dân đạt 12,2 giường; tỷ lệ bác sỹ về công tác tại xã đạt 78,2% (170 xã); tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng còn 19,5%; tỷ lệ xã đạt bộ tiêu chí quốc gia về y tế đạt 37% (80 xã). Hệ thống cung cấp các dịch vụ y tế được mở rộng, công tác xã hội hoá về y tế được đẩy mạnh, các cơ sở y tế tư nhân từng bước phát triển. Công tác dân số kế hoạch hoá gia đình có nhiều tiến bộ, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm nhanh. 

Về giáo dục tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đến trường đạt gần 100%. Chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông từng bước được nâng lên; tỷ lệ học sinh lưu ban, bỏ học giảm dần; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp và số học sinh khá giỏi tăng qua các năm. Đội ngũ giáo viên được tăng cường cả về số lượng và chất lượng, tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn ở 3 cấp học đạt 98%. Hệ thống trường phổ thông đạt chuẩn quốc gia là 40,75%. Công tác xã hội hoá giáo dục được đẩy mạnh, đem lại hiệu quả thiết thực. Thực hiện tốt việc lồng nghép các chương trình, dự án để kiên cố hoá trường, lớp học, nhà công vụ giáo viên; thực hiện việc đầu tư xây dựng các trường lẻ có hiệu quả. Tỷ lệ phòng học được kiên cố và bán kiên cố tính đến năm nay đạt 82%; có 100% xã trên địa bàn vùng DTTS đều có trường mầm non; có 02 trường THPT nội trú tỉnh, 6 trường THCS nội trú huyện.

Khánh Ngọc