Chính quyền của Thủ tướng Canada G.Tru-đô (Justin Trudeau) đang xem xét việc Canada tham gia hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo (BMD) của Mỹ.

Tranh luận về việc tham gia BMD lại một lần nữa được mở ra với một "tài liệu tham vấn" dài 30 trang do Bộ trưởng Quốc phòng Canada H.Xa-gian (Harjit Sajjan) ban hành vào tháng 5 vừa qua.

"Thay đổi thực sự"

Nội dung viết trong tài liệu trên viết: "Với sự gia tăng số lượng các quốc gia có công nghệ tên lửa đạn đạo cũng như nguy cơ có thể tấn công Bắc Mỹ, mối đe dọa này dự kiến sẽ còn kéo dài và phát triển phức tạp hơn trong những thập kỷ tới", chính vì vậy các nước trong khu vực cần phải phát triển khoa học kỹ thuật, trong đó có các hệ thống "phòng thủ" hiện đại, đối phó với mọi âm mưu tấn công.

Báo chí Canada cho biết, trong thập kỷ qua, Mỹ đã chi khoảng 100 tỷ USD vào vũ khí chống tên lửa đạn đạo và hợp tác với các đồng minh NATO ở châu Âu để lắp đặt trạm thiết bị BMD trên phạm vi nhiều nước châu Âu, đồng thời cũng làm điều tương tự tại Nhật Bản, Hàn Quốc và Ô-xtrây-li-a ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Canada là một đồng minh lớn trong cả 3 cuộc tấn công quân sự chiến lược của Mỹ trong thời gian gần đây đã có những động thái thể hiện rõ ý định gia nhập hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo của Mỹ.

Hệ thống PAC-3 được triển khai tại Nhật Bản. Ảnh: Japantimes.co.jp. 

Như ông G.Tru-đô đã nhiều lần tuyên bố, một trong những ưu tiên quan trọng của Ốt-ta-oa là tăng cường hợp tác sâu rộng giữa Canada và Mỹ. Tháng 6-2015, ông G.Tru-đô đã có bài phát biểu quan trọng kêu gọi "thay đổi thực sự" trong quan hệ Canada - Mỹ. Và một trong những yêu cầu trọng tâm là cải thiện phối hợp chính sách lục địa giữa Oa-sinh-tơn và Ốt-ta-oa; thúc đẩy hợp tác về quốc phòng, trong đó có việc tham gia BMD; hợp tác trong các vấn đề quân sự toàn cầu. Cụ thể, thời gian qua, chính phủ của ông G.Tru-đô đã tuyên bố tăng gấp ba lần Lực lượng đặc biệt của Canada ở I-rắc và đang xem xét triển khai quân ở ít nhất từ 5 đến 7 quốc gia khác, bao gồm cả Li-bi, Ma-li, và Hai-i-ti...Theo các chuyên gia quốc phòng Canada, việc tham gia vào hệ thống phòng thủ tên lửa một cách toàn diện, tăng hợp tác quốc phòng với Mỹ có thể sẽ trợ lực cho Canada trong vấn đề liên quan tới bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, đặc biệt ở khu vực đang có những tuyên bố từ nhiều quốc gia khác nhau.

Cũng theo nhận định của các chuyên gia, điều này cũng không có gì mới, trước cuộc bầu cử năm 2015, chính quyền của Thủ tướng X.Ha-pơ (S.Harper) cũng đã xem xét tham gia BMD nhưng sau đó chính giới của Canada đã đi đến kết luận rằng: Để có thể chuẩn bị một cách tốt nhất cho sự gia tăng quân sự trong chính sách đối ngoại của Canada cũng như tiến sâu hơn nữa vào các kế hoạch quân sự mang tầm khu vực và toàn cầu, chính quyền của đảng Tự do cần phải thuyết phục được người dân.

X.Prút (S.Proud), chuyên gia phân tích chính trị nhận định, từ lâu đảng Tự do cầm quyền đã thảo luận kế hoạch tăng cường quan hệ với Mỹ, trước cả thời điểm lên nắm quyền ở Canada. Việc đảng này bất ngờ giành chiến thắng đa số trong cuộc bầu cử liên bang vừa qua phần nào phản ánh mối quan ngại lớn của người dân rằng Canada đang mất ảnh hưởng trên trường quốc tế; đứng ngoài lề hoặc không xây dựng được chiến lược dài hạn phản ánh giá trị và lợi ích Canada. Người dân đã bỏ phiếu cho sự thay đổi để Canada trở thành nhân tố có ảnh hưởng trong các công việc quốc tế. Điều này hợp với chương trình nghị sự đầy tham vọng của Thủ tướng G.Tru-đô tuyên bố rằng sẽ Canada sẽ tích cực can dự và giành lại uy tín và tiếng nói của Canada trên trường quốc tế, nhất là trong các lĩnh vực ngoại giao, an ninh, nhân đạo và các nỗ lực giảm nhẹ thiên tai...

4 hệ thống tên lửa

Các chuyên gia về an ninh-quốc phòng của Canada nhận định, với những ưu điểm của Hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo Mỹ, Canada hoàn toàn có thể tin tưởng và cần tích cực tham gia. Hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo của Mỹ là các hệ thống liên hợp chiến lược có khả năng chống lại sự thâm nhập của các loại tên lửa đạn đạo liên lục địa. Các tên lửa có thể bị chặn bằng các tên lửa khác (hoặc cũng có thể bằng kỹ thuật laser) ở nhiều giai đoạn khác nhau như giai đoạn bay ngoài tầm khí quyển hoặc ở giai đoạn cuối. Hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo của Mỹ được thiết kế và triển khai để bảo vệ lãnh thổ của Mỹ và đồng minh trước mối đe dọa tấn công bằng tên lửa đạn đạo. Ban đầu, Lầu Năm Góc nghiên cứu phát triển công nghệ phòng thủ tên lửa đạn đạo để đối phó với mối đe dọa hạt nhân trong thời kỳ Chiến tranh lạnh. Tuy nhiên, đến thế kỷ 21, hệ thống này đã chuyển trọng tâm sang phòng thủ và ngăn chặn các cuộc tấn công tiềm tàng từ một số đối thủ trong khu vực.

Theo đó, tên lửa đạn đạo trong hệ thống này có thể được phóng từ nhiều vị trí khác nhau, như từ hầm chứa, xe cơ động, xe lửa, tàu ngầm, tàu chiến và máy bay. Tên lửa được phân chia thành bốn loại cơ bản dựa trên tầm bắn tối đa: Tầm ngắn (dưới 1.000m), tầm cận trung (1.000 - 3.000km), tầm trung (3.000 - 5.500km); tên lửa đạn đạo liên lục địa, hoặc ICBM (hơn 5.500km). Căn cứ vào các đặc điểm nêu trên của tên lửa, quân đội Mỹ đã hình thành bốn chức năng cơ bản để đối phó với một tên lửa đạn đạo thông qua hệ thống phòng thủ. Bốn chức năng cơ bản của hệ thống phòng thủ tên lửa là: Phát hiện; phân biệt; điều khiển hỏa lực; tiêu diệt mục tiêu. Hiện tại, quân đội Mỹ đang sở hữu bốn chương trình BMD bao gồm: Hệ thống đánh chặn tên lửa trên mặt đất (GMD); hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo Aegis; hệ thống đánh chặn tên lửa giai đoạn cuối (THAAD); hệ thống đánh chặn tên lửa tầm thấp giai đoạn cuối (PAC-3).

Trong đó, GMD là thành phần phức tạp và tốn kém nhất trong hệ thống, được thiết kế để tiêu diệt tên lửa đạn đạo chiến lược tầm xa giai đoạn giữa bằng các tên lửa đánh chặn triển khai trên mặt đất. Cơ quan phòng thủ tên lửa của Mỹ (MDA) đang phát triển một số hệ thống có khả năng đối phó với các cuộc tấn công bằng tên lửa đạn đạo. Các hệ thống này không được thiết kế để phòng thủ trước các cuộc tấn công hạt nhân quy mô lớn. Tính từ năm 2002 đến nay, MDA đã chi khoảng 90 tỷ USD vào hệ thống phòng thủ tên lửa và có kế hoạch sẽ chi cho hệ thống này khoảng 8 tỷ USD/năm đến năm 2017-tương đương khoảng 2% ngân sách quốc phòng.

Hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo Aegis được coi là thành phần hiệu quả nhất trong hệ thống phòng thủ BMD. Hệ thống Aegis thường được triển khai trên biển để đánh chặn các tên lửa đạn đạo tầm ngắn và tầm cận trung sau khi được phóng hoặc ngay trước khi tấn công mục tiêu.

Hệ thống đánh chặn tên lửa giai đoạn cuối (THAAD) là hệ thống phòng thủ tên lửa cơ động trên đất liền, có khả năng đánh chặn các tên lửa đạn đạo tầm ngắn và tầm cận trung. Mỗi hệ thống tên lửa THAAD có chứa tám tên lửa đánh chặn và được bắn từ một bệ phóng gắn trên xe cơ động.

Còn Hệ thống đánh chặn tên lửa tầm thấp giai đoạn cuối PAC-3 là sự kế thừa của các hệ thống phòng thủ tên lửa được triển khai trong chiến tranh vùng Vịnh năm 1991 và là hệ thống phát triển hoàn thiện nhất trong hệ thống phòng thủ tên lửa của Mỹ. PAC-3 được triển khai nhanh chóng trên các bệ phóng cơ động, sử dụng các bộ cảm biến để theo dõi và đánh chặn tên lửa tầm thấp giai đoạn cuối (thấp hơn so với các hệ thống THAAD). Hiện nay, các khẩu đội tên lửa PAC-3 đã được triển khai tại một số quốc gia như Hàn Quốc, Nhật Bản, Thổ Nhĩ Kỳ...

Theo Quân đội nhân dân