Thành công nổi bật của ta trong chiến dịch là vận dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức tác chiến, đánh cắt giao thông, đánh thị xã, căn cứ, đánh địch phản đột kích...

Tây Nguyên có vị trí chiến lược rất quan trọng, nên Mỹ-ngụy đã biến nơi đây thành một căn cứ chiến lược lớn, hòng đè bẹp cuộc kháng chiến của nhân dân ba nước Đông Dương, ngăn chặn sự chi viện của ta từ miền Bắc vào và từ rừng núi xuống đồng bằng Khu 5. Lực lượng địch ở Tây Nguyên có Sư đoàn bộ binh 23, bảy tiểu đoàn biệt động quân, 36 tiểu đoàn bảo an, 4 thiết đoàn, 230 khẩu pháo, 150 máy bay thuộc Quân đoàn 2-Quân khu 2. Nhìn chung, địch bố trí lực lượng mạnh ở khu vực phía bắc Tây Nguyên, còn khu vực phía nam được coi như hậu phương, nên chúng bố trí lực lượng mỏng hơn.

Thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị về giải phóng miền Nam trong năm 1975, tháng 1-1975, Thường trực Quân ủy Trung ương họp quán triệt và quyết định mở Chiến dịch Tây Nguyên (mang mật danh A275), nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, giải phóng các tỉnh nam Tây Nguyên (Đắc Lắc, Phú Bổn, Quảng Đức), thực hiện chia cắt chiến lược và tạo thế chiến lược mới trên chiến trường toàn miền Nam.

Tấn công, đánh chiếm trại Mai Hắc Đế, thị xãBuôn Ma Thuộttrong Chiến dịch Tây Nguyên, tháng 3- 1975. Ảnh tư liệu: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Bộ tư lệnh chiến dịch do Trung tướng Hoàng Minh Thảo làm Tư lệnh, Đại tá Đặng Vũ Hiệp làm Chính ủy. Lực lượng tham gia chiến dịch có 5 sư đoàn bộ binh (10, 320, 316, 3 và 968), 4 trung đoàn pháo binh độc lập (25, 95B, 271, 95), Trung đoàn 198 và 2 tiểu đoàn đặc công (14, 27), 2 trung đoàn pháo binh (40, 675), 3 trung đoàn phòng không (232, 234, 593), Trung đoàn Tăng-Thiết giáp 273, hai trung đoàn công binh (7, 575), Trung đoàn thông tin 29 và lực lượng vũ trang các tỉnh Đắc Lắc, Gia Lai, Kon Tum, Quảng Đức.

Thực hiện nhiệm vụ nghi binh, tạo thế chiến dịch, đầu tháng 3-1975, Bộ tư lệnh chiến dịch sử dụng Sư đoàn 968 hoạt động nghi binh ở khu vực bắc Tây Nguyên khiến Sư đoàn 23 địch phải chuyển một bộ phận lực lượng từ Buôn Ma Thuột lên Kon Tum, Plây-cu đối phó. Theo kế hoạch, ngày 4-3, bộ đội ta chính thức nổ súng mở Chiến dịch Tây Nguyên. Từ ngày 4 đến 9-3, quân ta đánh cắt giao thông trên các đường số 19, 21, cô lập Tây Nguyên với vùng duyên hải miền Trung, chia cắt đường số 14 để cô lập hai khu vực bắc Tây Nguyên với nam Tây Nguyên; tiến công lần lượt đánh chiếm quận lỵ Thuần Mẫn (8-3), Đức Lập (9-3), cô lập triệt để Buôn Ma Thuột. Thừa thắng, trong 2 ngày 10 và 11-3, quân ta tiến công thị xã Buôn Ma Thuột, đánh thắng trận then chốt 1 của chiến dịch. Tiếp đó, từ ngày 14 đến 18-3, ta đập tan cuộc phản kích của Sư đoàn 23 trong trận Nông Trại-Chư Cúc, thực hiện thắng lợi trận then chốt thứ 2. Bị thất bại và trước sức uy hiếp mạnh mẽ của quân ta, từ ngày 15-3, quân địch rút khỏi Kon Tum, Plây-cu theo đường số 7 hòng co cụm về vùng đồng bằng ven biển Khu 5. Không bỏ lỡ thời cơ, bộ đội ta kịp thời truy kích, tiêu diệt gần hết quân địch rút chạy trên đường số 7, với các trận Cheo Reo (từ ngày 17 đến 19-3), Củng Sơn (24-3), giành thắng lợi trong trận then chốt thứ ba… Sau đó, quân ta phát triển chiến đấu xuống vùng duyên hải Nam Trung Bộ, phối hợp với quân và dân địa phương lần lượt giải phóng các tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa, kết thúc chiến dịch vào ngày 3-4-1975. Kết quả, ta tiêu diệt và làm tan rã Quân đoàn 2-Quân khu 2 quân đội Sài Gòn, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 28.000 tên địch, thu và phá hủy 154 máy bay, 1.096 xe quân sự, giải phóng 5 tỉnh (Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Phú Bổn, Quảng Đức) và một số tỉnh ở duyên hải Nam Trung Bộ.

Khu vực Sơn Hà, tháng 3-1975. 
Không ảnh chụp quân đoàn 2 VNCH rút chạy trên đường số 7

Chiến dịch Tây Nguyên, mở đầu Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 thắng lợi vang dội có ý nghĩa to lớn cả về chính trị và quân sự. Xét trên phương diện nghệ thuật thì Chiến dịch Tây Nguyên có bước phát triển cao, thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau đây:

Trước hết, ta chọn đúng hướng và mục tiêu tiến công chủ yếu. Xác định đúng đắn các hướng và mục tiêu của chiến dịch, nhất là hướng và mục tiêu chủ yếu là một trong những vấn đề rất quan trọng bảo đảm cho chiến dịch thắng lợi. Trong Chiến dịch Tây Nguyên, ta đã chọn đúng hướng chủ yếu là nam Tây Nguyên và chọn đúng mục tiêu tiến công chủ yếu là Buôn Ma Thuột. Như vậy, ta đã điểm đúng huyệt, đánh vào nơi rất hiểm yếu của địch. Thực tiễn chiến dịch cho thấy, trong trận Buôn Ma Thuột, ta có điều kiện triển khai binh lực và thực hiện tiến công bằng sức mạnh binh chủng hợp thành với quy mô lớn đã giành thắng lợi oanh liệt, làm đảo lộn thế phòng thủ của địch, buộc chúng phải rút bỏ Kon Tum, Plây-cu, tạo điều kiện cho chiến dịch phát triển tiến tới thắng lợi.

Hai là, ta thực hiện nghệ thuật nghi binh, tạo thế, giữ vững quyền chủ động tiến công trong suốt quá trình chiến dịch. Đây là nét nổi bật cũng là thành công lớn của ta ở chỗ tiến hành một loạt các biện pháp nghi binh rất công phu, tích cực. Đó là trên hướng Kom Tum, Plây-cu, ta sử dụng Sư đoàn 968 và lực lượng vũ trang hai tỉnh hoạt động nghi binh khiến địch càng tin ta tiến công ở bắc Tây Nguyên nên đã thu hút và giam chân khối chủ lực cơ động của địch, trong khi ta tập trung mở cuộc tiến công ở nam Tây Nguyên. Nhờ vậy, trong giai đoạn đầu chiến dịch, khi ta thực hiện tiến công ở nam Tây Nguyên đã khiến địch hoàn toàn bị bất ngờ, dẫn đến hậu quả nhanh chóng thất bại.

Ba là, tập trung lực lượng tạo ưu thế hơn hẳn địch trên hướng và mục tiêu chủ yếu để giành thắng lợi. Trong chiến dịch này, ta huy động lực lượng chủ lực của Bộ tăng cường (14 tiểu đoàn bộ binh) cùng với chủ lực Quân khu 5 và Đông Nam Bộ (10 tiểu đoàn) đến phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương (28 tiểu đoàn bộ binh). Với lực lượng lớn đó, trên hướng chủ yếu của chiến dịch (nam Tây Nguyên), ta đã tạo được ưu thế về binh lực hơn hẳn địch. Đối với mục tiêu chủ yếu (Buôn Ma Thuột), cũng là trận then chốt mở màn chiến dịch, ta tập trung lực lượng tăng gấp 5 lần quân địch, tạo thế bao vây, chia cắt, cô lập chúng để tiêu diệt từng cứ điểm địch. Đến trận then chốt thứ 2 (đánh Sư đoàn 23 địch phản đột kích), lực lượng ta chỉ gần bằng và trận then chốt thứ 3 (đánh địch rút chạy trên đường số 7), ta ít hơn địch, nhưng thế ta lại hơn hẳn thế địch, nên đã đánh thắng chúng.

Bốn là, vận dụng linh hoạt cách đánh chiến dịch. Thành công nổi bật của ta trong chiến dịch là vận dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức tác chiến, đánh cắt giao thông, đánh thị xã, căn cứ, đánh địch phản đột kích và đánh chúng rút chạy. Nhìn chung, cách đánh toàn chiến dịch cũng như trong từng trận đánh, ta tổ chức nghi binh tạo thế, thu hút, giam chân chủ lực địch trên hướng thứ yếu (bắc Tây Nguyên), còn ta tập trung tạo ưu thế binh lực trên hướng chủ yếu (nam Tây Nguyên) và mục tiêu chủ yếu (Buôn Ma Thuột) địch không ngờ tới, thực hiện bao vậy, chia cắt từng cụm cứ điểm, kết hợp đột phá với luồn sâu, thọc sâu, hiệp đồng binh chủng, trong ngoài cùng đánh, phá vỡ hệ thống phòng thủ kiên cố của địch ở Buôn Ma Thuột, tạo điều kiện kéo quân địch còn lại ra ngoài công sự kiên cố để tiếp tục tiêu diệt Sư đoàn 23 địch và cuối cùng vận động tiến công tiêu diệt quân địch còn lại rút chạy trên đường số 7, giành thắng lợi.

Thắng lợi to lớn của Chiến dịch Tây Nguyên đã tạo ra sự thay đổi căn bản về so sánh lực lượng và thế chiến lược có lợi cho ta, còn địch bị suy sụp và tan rã về chiến lược, dẫn đến co cụm và bị động đối phó trên các chiến trường. Chiến thắng Tây Nguyên đã mở ra thời cơ tổng tiến công chiến lược trên toàn miền Nam để quân và dân ta tiếp tục thực hiện các đòn tiến công quân sự lớn, phát triển cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 đi đến thắng lợi hoàn toàn.

TS DƯƠNG ĐÌNH LẬP (Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam)

Nguồn: QĐND Online