“Cuộc chiến tranh xâm lược ngày 17/2/1979 đã làm dư luận thế giới ngạc nhiên trước sự thay đổi đột ngột về chính sách của Trung Quốc đối với Việt Nam, song sự thay đổi đó không phải là điều bất ngờ!”.

LTS: 

Tháng 10 năm 1979, Nhà xuất bản Sự Thật (nay là NXB Chính trị Quốc gia - Sự Thật) đã cho xuất bản cuốn sách “Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua”, trong đó công bố rất nhiều những thông tin quan trọng và đáng chú ý về mối quan hệ ngoại giao Việt Nam - Trung Quốc kể từ khi nhà nước Trung Hoa chính thức ra đời (1949). Đáng chú ý, cuốn sách còn công bố khá nhiều tư liệu lịch sử quan trọng liên quan đến cuộc chiến tranh bảo vệ biên cương phía Bắc của Tổ quốc Việt Nam (tháng 2/1979). 

Điều đáng tiếc là đến nay vẫn còn khá nhiều người chưa biết đến cuốn sách cũng như các thông tin quan trọng về cuộc chiến bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ biên cương phía Bắc, của quân và dân Việt Nam. 

Báo điện tử Infonet xin trích đăng một số nội dung của cuốn sách để độc giả hiểu rõ hơn về một giai đoạn lịch sử của đất nước.

-------------------------------------------------

Thị xã Lạng Sơn bị quân Trung Quốc tàn phá

Sự thay đổi của chiến lược bành trướng bá quyền

Từ cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Quốc ở biên giới phía Bắc năm 1979, cuốn sách “Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua” được Bộ Ngoại giao Việt Nam công bố cách đây 35 đã chỉ rõ: “Những hành động thù địch công khai của những người lãnh đạo Trung Quốc đối với Việt Nam, mà đỉnh cao là cuộc chiến tranh xâm lược của họ ngày 17/2/1979, đã làm cho dư luận thế giới ngạc nhiên trước sự thay đổi đột ngột về chính sách của Trung Quốc đối với Việt Nam. Sự thay đổi đó không phải là điều bất ngờ, mà là sự phát triển logic của chiến lược bành trướng đại dân tộc và bá quyền nước lớn của những người lãnh đạo Trung Quốc trong 30 năm qua”.

Sau khi điểm lại những chiến lược theo kiểu “lật ngược chính sách liên minh, đổi bạn thành thù, đổi thù thành bạn nhanh chóng và toàn diện” trong đối ngoại và những cuộc thanh trừng tàn bạo, đẫm máu trong đối nội của Trung Quốc tính đến thời điểm đó, cuốn sách này tiếp tục nêu: Chiến lược của những người lãnh đạo Trung Quốc có những thay đổi rất lớn. Nhưng có một điều không thay đổi: đó là mục tiêu chiến lược muốn nhanh chóng đưa Trung Quốc trở thành một cường quốc bậc nhất thế giới và thực hiện mưu đồ bành trướng đại dân tộc và bá quyền nước lớn của họ đối với các nước khác”.

Điều đó được thể hiện qua các phát biểu của Mao Trạch Đông tại Hội nghị Ban chấp hành TƯ Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 1956: “Không thể chấp nhận rằng sau một vài chục năm, chúng ta vẫn chưa trở thành cường quốc số một trên thế giới”, và tại Hội nghị Quân ủy TƯ Trung Quốc tháng 9/1959: “Chúng ta phải chinh phục trái đất. Đó là mục tiêu của chúng ta”!

Đối với Việt Nam, văn kiện “Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua” cách đây 35 năm của Bộ Ngoại giao Việt Nam cũng chỉ rõ: Trong 30 năm qua, những người lãnh đạo Trung Quốc coi Việt Nam là một trong những nhân tố quan trọng hàng đầu đối với chiến lược của họ, luôn luôn tìm cách nắm Việt Nam. Muốn như vậy, Việt Nam phải là một nước không mạnh, bị chia cắt, không độc lập và lệ thuộc Trung Quốc. Trái lại, một nước Việt Nam độc lập, thống nhất và giàu mạnh, có đường lối độc lập, tự chủ và đường lối quốc tế đúng đắn là một cản trở lớn cho chiến lược toàn cầu của Bắc Kinh, trước hết là cho chính sách bành trướng của họ ở Đông Nam Á.

“Đó là nguyên nhân vì sao trước đây họ vừa giúp, vừa kiềm chế cách mạng Việt Nam, mỗi khi Việt Nam đánh thắng đế quốc thì họ lại buôn bán, thỏa hiệp với đế quốc trên lưng nhân dân Việt Nam; vì sao từ chỗ giấu mặt chống Việt Nam họ đã chuyển sang công khai thù địch với Việt Nam và đi tới trắng trợn tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam. Chính sách của những người lãnh đạo Trung Quốc muốn thôn tính Việt Nam nằm trong chính sách chung của họ đối với các nước Đông Nam Á cũng như đối với các nước láng giềng khác.

Chiến lược quốc tế ngày nay của những người lãnh đạo Trung Quốc, mặc dầu núp dưới chiêu bài nào, đã phơi trần tính chất cực kỳ phản cách mạng của nó và những người lãnh đạo Trung Quốc đã hiện nguyên hình là những người theo chủ nghĩa sô-vanh nước lớn, những người dân tộc chủ nghĩa tư sản. Chính sách ngày nay của những người lãnh đạo Trung Quốc đối với Việt Nam, mặc dầu được ngụy trang khéo léo như thế nào, vẫn chỉ là chính sách của những hoàng đế “thiên triều” trong mấy nghìn năm qua, nhằm thôn tính Việt Nam, khuất phục nhân dân Việt Nam, biến Việt Nam thành một chư hầu của Trung Quốc” – Sách “Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua” vạch trần.

Chủ nghĩa bành trướng thời hiện đại: Quyết liệt và trắng trợn

Ngày 19/1/2014, trong tham luận “40 năm Hoàng Sa bị Trung Quốc đánh chiếm: Nhận diện rõ hơn tính chất của chủ nghĩa bành trướng thời hiện đại” tại hội thảo quốc gia về chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa tổ chức tại Đà Nẵng, sau khi điểm lại chủ nghĩa bành trướng Đại Hán có lịch sử lâu đời hàng ngàn năm, ông Nguyễn Vĩ Khải, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ cũng chỉ rõ: “Chủ nghĩa bành trướng trong thời hiện đại tiếp tục tồn tại với tính chất mới: Quyết liệt và trắng trợn bất chấp sự phản ứng của dư luận”. Việc đánh chiếm Hoàng Sa cách đây 40 năm là một trong chuỗi sự kiện nằm trong toan tính của chủ nghĩa đó.

Trước khi chết 2 năm, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Mao Trạch Đông là người trực tiếp can dự vào cuộc cưỡng chiếm Hoàng Sa của Việt Nam. Ngày 17/1/1974, Mao Trạch Đông đã phê vào bản báo cáo của Thủ tướng Chu Ân Lai và Nguyên soái Diệp Kiếm Anh 2 chữ “Đồng ý”, đồng thời giao cho Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương Diệp Kiếm Anh và Đặng Tiểu Bình trực tiếp chỉ huy quân đội Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa.

Không dừng lại đó, tháng 2/1979, thế lực phản động Trung Quốc đã phản bội nhân dân hai nước, đưa 60 vạn quân đổ bộ các tỉnh biên giới phía Bắc của Việt Nam tàn sát dân lành, phá hoại công cuộc tái thiết của Việt Nam, làm cho nền kinh tế sau chiến tranh của chúng ta rơi vào khủng hoảng trầm trọng (mất hơn 10 năm khắc phục). Tháng 3/1988, hải quân Trung Quốc lại gây tội ác ở quần đảo Trường Sa của Việt Nam, chiếm đảo Gạc Ma…

Xe tăng Trung Quốc bị tiêu diệt ở mặt trận Cao Bằng

“Lịch sử cho thấy suốt 40 năm qua, từ sự kiện Hoàng Sa năm 1974 đến nay, phía Trung Quốc không ngừng “quậy phá“ ở biển Đông. Hệ thống lại quá trình bành trướng kể từ khi thống nhất được Trung Hoa lục địa (hơn 60 năm), nhà cầm quyền Trung Quốc đã đẩy chủ nghĩa bành trướng Đại Hán sang một nấc thang mới với tính chất ngày càng trắng trợn , quyết liệt, bất chấp phản ưng của láng giềng của quốc tế với các đặc trưng:

Hành động của chủ nghĩa bành trướng hiện đại: Tấn công, gây rối liên tục – cấp tập, cường độ ngày càng quyết liệt, phức tạp. Thời kỳ các thế lực phong kiến chỉ có 15 - 20 năm xảy ra 01 tình huống, sự kiện tranh chấp. Thời kỳ tồn tại 2 nhà nước XHCN, cùng 1 thể chế chính trị, cùng “chung một biển Đông” nhưng lại là 2 cách hành xử rất khác nhau về chủ quyền trên biển Đông nói chung và Trường Sa, Hoàng Sa nói riêng. Thời gian này tần số xảy ra trung bình 10 năm có tới 15 - 17 sự kiện.

Thời gian gần đây, trong 3 năm 2010 đến 2013 liên tục gây ra nhiều cuộc đụng độ với các nước trong khu vực tại Biển Đông (trừ Campuchía). Nhiều sự kiện xảy ra ở biển Đông làm “nổi sóng” khu vực và thế giới lên tiếng mạnh mẽ. Nhưng Trung Quốc vẫn lấn tới. Riêng trong năm 2012 đã xảy ra 52 sự kiện do phía Trung Quốc gây ra. Trung bình 1 tuần một sự cố làm mất ổn định trầm trọng trong khu vực và thế giới lo ngại!” – Ông Nguyễn Vĩ Khải viết.

Bản chất bành trướng không thay đổi?

Từ những cứ liệu trên, bài tham luận “40 năm Hoàng Sa bị Trung Quốc đánh chiếm: Nhận diện rõ hơn tính chất của chủ nghĩa bành trướng thời hiện đại” của ông Nguyễn Vĩ Khải đưa ra kết luận: “Nhân sự kiện Hoàng Sa cách đây 40 năm, hệ thống lại chuỗi sự kiện, chúng ta thấy bản chất của chủ nghĩa bành trướng Đại Hán trong lịch sử là không thay đổi – mặc dù đã thay đổi chế độ chính trị - từ nhà nước phong kiến sang nhà nước dân chủ nhân dân?

Không những thế, tư tưởng nước lớn + chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi của nhóm người cầm quyền Bắc Kinh đã đẩy sự bành trướng tới cực đoan, bất chấp các luật lệ quốc tế, chà đạp lên dư luận tiến bộ của nhân loại. Đây là biểu hiện của thế yếu: tự Trung Quốc làm mất đồng minh, trở nên cô độc, thêm thù – bớt bạn. Đó là ngõ cụt - hạ sách trong thế kỷ XXI – thế kỷ của HÒA BÌNH , HỢP TÁC & PHÁT TRIỂN”.

Trước đó, sách “Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua” của Bộ Ngoại giao Việt Nam công bố sau cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc cách đây 35 năm cũng chỉ rõ: “Trong hàng nghìn năm qua, nước Việt Nam đã bị các hoàng đế Trung Quốc xâm lược hàng chục lần, nhân dân Việt Nam hiểu rõ những ý đồ đen tối của những người lãnh đạo Trung Quốc, cho nên không một phút nào là không cảnh giác đối với họ… Nhân dân Việt Nam luôn luôn giữ vững đường lối độc lập, tự chủ của mình không gì lay chuyển được, bất chấp sức ép dù là che giấu hay công khai, gián tiếp hay trực tiếp, của những người cầm quyền Trung Quốc”.

Đồng thời cuốn sách cũng dự báo và tin tưởng: "Bằng chính sách bịp bợm “thân xa đánh gần” của các hoàng đế Trung Quốc và nhiều thủ đoạn xảo quyệt khác, những người cầm quyền Trung Quốc có thể còn che giấu được bộ mặt bành trướng của họ trong một thời gian. Nhưng sớm muộn nhân dân các nước ở Đông Nam châu Á sẽ hiểu rằng chính sách thù địch của Bắc Kinh chống Việt Nam đe dọa độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ không phải chỉ của riêng Việt Nam, mà của tất cả các nước trong khu vực…

Những người cộng sản chân chính ở Trung Quốc, nhân dân Trung Quốc, trong 30 năm tồn tại của nước CHND Trung Hoa, đã luôn luôn bị các tập đoàn thống trị lừa dối, sớm muộn sẽ nhận ra chân lý và sẽ đứng vế phía nhân dân Việt Nam, sẽ ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam… Nhân dân Việt Nam và nhân dân Trung Quốc nhất định sẽ sống trong hòa bình, hữu nghị và hợp tác, hợp với nguyện vọng của nhân dân hai nước và hợp với lợi ích của hòa bình ở Đông Nam châu Á và trên thế giới”.

HẢI CHÂU (lược ghi)