Bộ Tổng tham mưu là cơ quan chỉ huy, điều hành Quân đội nhân dân, Dân quân tự vệ và thực hiện các chức năng quản lý nhà nước về quốc phòng.
Bộ Tổng tham mưu là cơ quan chỉ huy, điều hành Quân đội nhân dân, Dân quân tự vệ và thực hiện các chức năng quản lý nhà nước về quốc phòng. Bộ Tổng tham mưu tổ chức, chỉ đạo sự phát triển của quân đội và dân quân tự vệ đồng thời chỉ huy các hoạt động quân sự.

Bộ Tổng tham mưu có Tổng Tham mưu trưởng, các Phó Tổng Tham mưu trưởng, các cục chức năng về tác chiến, huấn luyện, quân lực, dân quân tự vệ, nhà trường quân đội...

Tổng Tham mưu trưởng - Thứ trưởng Bộ Quốc phòng là người thay thế Bộ trưởng Bộ Quốc phòng điều hành các hoạt động của Bộ Quốc phòng khi Bộ trưởng vắng mặt. Tổng Tham mưu trưởng chỉ đạo các cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu xây dựng chiến lược quốc phòng; quy hoạch, kế hoạch phòng thủ đất nước, chủ trì phối hợp, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện các quy định pháp luật về quốc phòng, kiểm tra đôn đốc các đơn vị quân đội chấp hành pháp luật của Nhà nước, mệnh lệnh của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

Ngày truyền thống: 7/9/1945

Truyền thống vẻ vang:

"TRUNG THÀNH, MƯU LƯỢC, TẬN TỤY, SÁNG TẠO, ĐOÀN KẾT, HIỆP ĐỒNG, QUYẾT CHIẾN, QUYẾT THẮNG”

Phần thưởng cao quý:

- Huân chương Sao vàng;

- 02 Huân chương Hồ Chí Minh...

Tổng Tham mưu trưởng đầu tiên - Đồng chí Hoàng Văn Thái


Đại tướng HOÀNG VĂN THÁI

(Hoàng Văn Xiêm)

(1915 - 1986)

Quê quán: xã Tây An, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình

Tham gia cách mạng: 1936

Nhập ngũ: 1944

Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam: từ tháng 5/1938

Cấp bậc: Đại tướng  (1980)

Chức vụ cao nhất: Thứ tưởng Bộ Quốc phòng (1974 - 1986).

Quá trình tham gia cách mạng

1936: hoạt động trong phong trào Mặt trận bình dân, tổ chức các hội Tương tế, Ái hữu, tham gia chống thuế, chống bắt phu, bắt lính; tuyên truyền và tổ chức xây dựng cơ sở cách mạng trong nhân dân;

Tháng 9/1940: bị địch bắt, không tìm được chứng cứ, địch buộc phải thả;

Tháng 10/1940: hoạt động bí mật ở căn cứ Lạng Giang, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Hà Bắc (nay là tỉnh Bắc Giang), tham gia xây dựng và làm Đội trưởng Đội Cứu quốc quân Bắc Sơn;

Tháng 9/1941: đi học quân sự ở nước ngoài;

Tháng 10/1944: về nước và được giao nhiệm vụ quan trọng tham gia tổ chức Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, phụ trách công tác tình báo và tác chiến;

Tháng 4/1945: Phụ trách Trường Quân chính kháng Nhật;

Tháng 9/1945 - 1953: Tổng Tham mưu tưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Ủy viên Quân ủy hội, Ủy viên Ban quân sự Trung ương;

1948: đồng chí được phong quân hàm Thiếu tướng;

Tháng 9/1958: đồng chí được phong quân hàm Trung tướng, Chủ nhiệm Tổng cục Quân huấn kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Thể dục thể thao Trung ương;

Tháng 7/1966: Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 5, quyền Bí thư Khu ủy Khu 5;

Tháng 10/1967: Tư lệnh Bộ Chỉ huy Quân giải phóng miền Nam, Phó Bí thư Trung ương Cục kiêm Phó Bí thư Quân ủy Miền;

1974: đồng chí được phong quân hàm Thượng tướng;

1980: đồng chí được phong quân hàm Đại tướng;

1974 - 1986: Thứ tưởng Bộ Quốc phòng, Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân uỷ Trung ương); Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam các khóa III, IV, V;

Đại biểu Quốc hội khóa VII.

Phần thưởng cao quý

Huân chương Sao vàng (truy tặng năm 2007);

Huân chương Hồ Chí Minh;

Huân chương Quân công (hạng Nhất, hạng Nhì);

Huân chương Chiến thắng hạng Nhất;

Huân chương Kháng chiến hạng Nhất…

Nguồn: Bqp.vn