Mặc dù biện pháp ngoại giao chưa giải quyết triệt để vấn đề chương trình hạt nhân Iran, tác giả Colin H. Kahl trên tạp chí Ngoại Giao vẫn cho rằng Mỹ không nên đối đầu Cộng hòa Hồi giáo.

Ánh sáng cuối đường hầm

Sau nhiều thập kỷ bị cô lập, cuối cùng chính quyền Iran có vẻ đã sẵn sàng giảm bớt các hoạt động thuộc chương trình hạt nhân đầy mâu thuẫn của nước này để đổi lấy các lệnh cấm vận kinh tế được nới lỏng.

Trong cuộc bầu cử tổng thống Iran 2013, ông Hassan Rouhani, một người theo trường phái ôn hòa, đã giành chiến thắng trước các đối thủ theo trường phái bảo thủ, cứng rắn. Trong khi ứng cử viên Saeed Jalili ủng hộ Iran tiếp tục chiến lược “phản kháng hạt nhân”, ông Rouhani cam kết sẽ tiến tới một thỏa thuận với phương Tây để giảm gánh nặng kinh tế từ các lệnh cấm vận áp đặt với Iran.

Tổng thống Mỹ Barack Obama và cuộc điện đàm lịch sử với Tổng thống Iran Hassan Rouhani hồi tháng 9/2013.

Bước đầu tiên trên con đường tới một thỏa thuận toàn diện là thỏa thuận lâm thời đạt được vào tháng 11/2013 tại Geneva. Theo đó Tehran đồng ý dừng lại và giảm bớt một phần hoạt động trong chương trình hạt nhân của nước này để đổi lấy việc cộng đồng quốc tế dừng hoặc bỏ một số lệnh cấm vận trừng phạt Iran.

Thỏa thuận này là thành quả có ý nghĩa nhất trong vòng hơn một thập kỷ qua xét về mục tiêu một Iran phi hạt nhân. Thỏa thuận đó làm “đóng băng” kho uranium 20% của Iran và kéo dài thời gian để Tehran làm giàu uranium đủ mức để chế tạo vũ khí thêm khoảng 1 hoặc 2 tháng.

Ngoài ra, cũng theo thỏa thuận này, các thanh sát viên của Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) có thêm quyền tiếp cận các cơ sở hạt nhân của Iran, khiến Tehran khó chuyển các công nghệ và nguyên liệu hạt nhân quan trọng tới các cơ sở bí mật mới. Thỏa thuận này cũng bao gồm yêu cầu dừng hoạt động lò phản ứng tạo plutonium tại Arak, làm giảm nguy cơ Iran sử dụng plutonium làm nguyên liệu chế tạo một quả bom.

Mặc dù tự thân thỏa thuận lâm thời Mỹ - Iran chưa thể là công cụ giải quyết vấn đề hạt nhân Iran nhưng ít nhất thỏa thuận này cũng tạo ra khoảng thời gian 6 tháng hoặc có thể dài hơn để hai bên thương lượng nhằm tiến tới một thỏa thuận toàn diện.

Vẫn có nguy cơ thỏa thuận đổ vỡ

Một số nhà phân tích cho rằng các nhà thương lượng Mỹ nên sử dụng các lệnh cấm vận kinh tế “đầy quyền năng” và việc Iran sẵn lòng thương lượng để tiến tới mục tiêu buộc Iran dỡ bỏ hoàn toàn chương trình vũ khí hạt nhân. Mục tiêu này được thể hiện trong “yêu sách” của Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu về thỏa thuận cuối cùng Mỹ - Iran: Iran không được làm giàu uranium ở bất kỳ mức độ nào, không duy trì kho uranium làm giàu, không có máy li tâm hay các máy móc tương tự, không có lò phản ứng nước nặng Arak và không có cơ sở nào làm giàu plutonium.

Mặc dù việc giữ Iran càng cách xa vũ khí hạt nhân càng tốt là mục tiêu có lí, nhưng trên thực tế, “yêu sách” mang tính chất tuyệt đối buộc Iran không được sở hữu bất kỳ cơ sở hạt nhân nào có thể sẽ gây phản tác dụng đối với các nỗ lực ngoại giao.

Bất chấp Mỹ cùng đồng minh và rộng hơn là cộng đồng quốc tế gây sức ép thế nào, có khả năng chính quyền Iran sẽ không chấp thuận dừng vĩnh viễn các hoạt động làm giàu (uranium hoặc plutonium).

Thủ lĩnh tối cao Ayatollah Ali Khamenei, người có quyền quyết định cuối cùng đối với chương trình hạt nhân của Iran, đã đầu tư rất nhiều về cả chính trị và tài chính (khoảng hơn 100 tỷ USD trong nhiều năm qua) để Iran sở hữu các công nghệ  làm giàu và bảo vệ quyền lợi của nước này về hạt nhân.

Chương trình hạt nhân và “sự phản kháng lại các cường quốc ngạo mạn” là nội dung then chốt trong chiến dịch tuyên truyền bảo vệ sự tồn tại hợp pháp của chính quyền Iran. Vì vậy, dù cho các lệnh cấm vận kinh tế khắc nghiệt tới đâu, Khamenei và các nhân vật có tư tưởng cứng rắn thuộc Lực lượng vệ binh cách mạng sẽ không ủng hộ các cuộc thương lượng sâu hơn nữa với Mỹ - chưa nói tới một thỏa thuận hạt nhân toàn diện – nếu kết quả thương lượng bị nhìn nhận là sự đầu hàng của chính quyền Iran.

Như nhà phân tích Alireza Nader nhận xét: “Các lệnh cấm vận đe dọa sự cai trị của họ nhưng tỏ ra yếu đuối trước sức ép (của phương Tây) là điều không thể tưởng tượng được”.

Ngay cả Tổng thống Rouhani và nhóm thương lượng hạt nhân của ông có lẽ cũng không nhất trí dừng các hoạt động làm giàu hay ủng hộ một chính sách tương tự bởi lẽ đó sẽ là hành động tự sát về chính trị.

Trong năm 2003, khi còn là trưởng đoàn thương lượng hạt nhân của Iran, ông Rouhani đã thuyết phục Thủ lĩnh tối cao Khamenei chấm nhận tạm thời dừng các hoạt động làm giàu. Nhưng các cuộc đàm phán với các cường quốc dừng lại vào đầu năm 2005 sau khi Iran không được công nhận quyền làm giàu (uranium hoặc plutonium). Sau đó không lâu, Tehran tiếp tục các hoạt động hạt nhân. Có lẽ ông Rouhani không muốn để “lịch sử lặp lại”.

Nếu Mỹ chọn cách đối đầu với Iran

Trong bối cảnh gần như chắc chắn Iran sẽ bác bỏ “yêu sách” về việc dừng hoàn toàn chương trình hạt nhân, nếu đưa ra những yêu cầu cực đoan như vậy, Mỹ sẽ tự đẩy mình tới bờ vực “đối đầu trực diện” với Iran, leo thang các đe dọa về kinh tế và quân sự tới điểm đe dọa tới sự tồn vong của chính quyền Tehran. Nhưng có khả năng, chiến lược đầy rủi ro đó sẽ không thành công và nếu thất bại, hậu quả sẽ vô cùng khủng khiếp.  

Thứ nhất, hiện vẫn chưa rõ liệu việc leo thang các lệnh cấm vận có thể buộc chính quyền Iran “quỳ gối” và ngăn chặn Tehran sở hữu uranium làm giàu đủ mức chế tạo vũ khí nguyên tử hay không.

Việc Iran sẵn lòng tham gia các cuộc thương lượng dưới sức ép của lệnh cấm vận kinh tế không có nghĩa là gây thêm sức ép sẽ khiến Iran đầu hàng. Nền kinh tế Iran đang gặp khó khăn nhưng chưa tới mức sắp sụp đổ.

Có thể ông Khamenei và Lực lượng vệ binh cách mạng cho rằng Cộng hòa hồi giáo còn rơi vào tình cảnh khó khăn hơn vào thời kỳ Chiến tranh Iran – Iraq – cuộc xung đột kéo dài 8 năm khiến hàng trăm nghìn người Iran thiệt mạng và thiệt hại hơn 500 tỷ USD trước khi Iran chấp thuận một thỏa thuận ngừng bắn với Iraq.

Ngay cả khi Washington áp đặt thêm các lệnh cấm vận kinh tế, có thể điều đó sẽ không đủ mạnh để khiến giới lãnh đạo Iran rối loạn, gây bạo động lớn hay khiến chính quyền sụp đổ. Và ngay cả khi các lệnh cấm vận có thể làm thay đổi chính quyền, biện pháp đó cũng không đủ để Iran từ bỏ hoàn toàn chương trình hạt nhân của nước này.

Thứ hai, có vẻ nghịch lý nhưng việc gia tăng các lệnh cấm vận buộc chính quyền Iran đầu hàng có thể lại làm suy yếu sức ép của cộng đồng quốc tế đối với Iran.

Tổng thống Rouhani đã thành công trong việc thay đổi cái nhìn của thế giới về Iran. Nếu tỏ ra không khoan nhượng, Mỹ sẽ rất khó duy trì sự đoàn kết của quốc tế trong việc cô lập Iran như hiện nay, đặc biệt là với các quốc gia như Trung Quốc, Nga và vô số quốc gia châu Âu, châu Á khác.

Các quốc gia ở châu Âu, châu Á có tư tưởng dao động sẽ quay trở lại “tán tỉnh” Iran, đẩy Mỹ vào tình cảnh phải chọn giữa việc áp đặt thêm các lệnh cấm vận trừng phạt các quốc gia trên hay chấp nhận thực tế là các lệnh cấm vận ngày càng trở nên suy yếu tác dụng.

Thứ ba, ngay cả khi đưa ra thêm những đe dọa về quân sự, Mỹ cũng khó có thể đạt được kết quả như những “yêu sách cực đoan” về chương trình hạt nhân của Iran. Rõ ràng khi tiến hành chương trình hạt nhân, chính quyền Iran đã tính tới phương án đối đầu quân sự với Mỹ. Mỹ nên coi việc dùng vũ lực là giải pháp cuối cùng nếu ngoại giao thất bại. Nhưng chỉ đưa ra những lời đe dọa tấn công các cơ sở hạt nhân Iran, dù lời đe dọa có mạnh mẽ tới đâu, cũng không tạo đủ sức ép khiến Tehran phải từ bỏ hoàn toàn chương trình hạt nhân của mình.

Cuối cùng, càng cố gắng gây sức ép tới Cộng hòa Hồi giáo sẽ càng khiến Tehran có thêm động lực sở hữu vũ khí hạt nhân. Nếu Mỹ gia tăng sức ép về kinh tế và quân sự vào đúng thời điểm Iran bắt đầu sẵn lòng thương lượng, Khamenei có thể sẽ nhận định rằng mục tiêu thực sự và cuối cùng của Mỹ là thay đổi chính quyền Iran. Nhận định đó sẽ chỉ càng củng cố, chứ không làm suy yếu, quyết tâm của Iran tăng cường năng lực hạt nhân phòng ngừa.

Nói tóm lại, đối đầu với Iran không phải  là chiến lược hiệu quả và có thể sẽ trở thành “canh bạc” nguy hiểm. Việc Mỹ dồn mọi “vốn liếng” để mong đạt được một thỏa thuận tối ưu có thể sẽ không đem lại một thỏa thuận nào. Khi đó, Iran sẽ càng tự do và có thể càng có động lực chế tạo vũ khí nguyên tử và làm gia tăng nguy cơ đối đầu quân sự.

Ngoại trưởng Mỹ John Kerry (trái) và Ngoại trưởng Iran Mohammad Javad Zarif (ngoài cùng bên phải) trong cuộc họp với 5 ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an LHQ và Đức ngày 25/9/2013.

Vẫn còn thời gian cho giải pháp ngoại giao

Trong một diễn đàn do Học viện Brookings chủ trì hồi tháng 12/2013, Tổng thống Obama nói: “Để bảo vệ lợi ích quốc gia, Mỹ phải ngăn chặn Iran sở hữu vũ khí hạt nhân. Nhưng như tôi vẫn nói, mặc dù tôi không loại trừ bất kỳ phương án nào, chúng ta phải thử phương án giải quyết vấn đề này bằng con đường ngoại giao”.

Khi một cựu tướng quân đội Israel hỏi rằng ông sẽ làm gì nếu biện pháp ngoại giao thất bại, ông Obama nói: “Chúng tôi đã xem xét và chuẩn bị cho mọi phương án để chọn lựa bao gồm cả phương án dùng vũ lực”.

Trước những nguy hiểm mà một Iran sở hữu vũ khi hạt nhân đem lại, Tổng thống Obama đã đúng khi để ngỏ phương án quân sự. Tuy nhiên, ông cũng đúng khi ủng hộ mạnh mẽ giải pháp ngoại giao. Sự thay đổi trong chính quyền Iran và những kết quả tạm đạt được tại Geneva cho thấy thực sự có cơ hội để giải quyết cuộc khủng hoảng hạt nhân Iran một cách hòa bình.

Tác giả Colin H. Kahl kết luận rằng, không ai có thể nói trước khả năng thành công của một phương án là cao hay thấp nhưng trước những mối nguy hiểm của cả việc Iran sở hữu bom hạt nhân và phương án tấn công quân sự Iran, Mỹ phải tận dụng mọi cơ hội của con đường ngoại giao. 

Lê Dung