43 năm qua, chết đi rồi sống lại, hai ông Phuôl và Vân vẫn mạnh khoẻ, vẫn vui vẻ gặp gỡ đồng đội cũ trong những dịp lễ tết, ngày truyền thống để ôn lại quá khứ, thăm hỏi động viên nhau trong cuộc sống
Các ông Nguyễn Văn Phuôl, Nguyễn Thành Hát, Lê Hồng Vân (từ trái qua) gặp gỡ trao đổi với ông Lê Văn Sỹ (bìa phải), Phó Bí thư Huyện uỷ Gò Dầu.

 

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ở huyện Gò Dầu có đơn vị lực lượng vũ trang được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND. Đó là Đại đội 33 (C33). Chiến công của đơn vị này khó mà kể hết.

Trong chiến đấu, dù cán bộ, chiến sĩ có dũng cảm, tài giỏi đến đâu thì chuyện mất mát hy sinh cũng không tránh được. Tuy nhiên, cũng có trường hợp tưởng chừng đã hy sinh và chuẩn bị đem chôn, thì đột nhiên… sống dậy. Đáng nói là ở C33 anh hùng có tới hai trường hợp như thế. Mới đây, người viết bài này may mắn được gặp gỡ những người trong cuộc.

Chuyện xảy ra cách đây hơn 43 năm, mà những nhân chứng sống vẫn nhớ rành rọt như vừa mới xảy ra. Đại uý Nguyễn Thành Hát (sinh năm 1946, nhà ở xã Bàu Đồn- Gò Dầu) nguyên là Trung đội trưởng Trung đội 1- Đại đội 33 kể lại: Sáng sớm ngày 10.2.1972, một trung đội lính dân vệ (còn gọi là lính nghĩa quân của chế độ Sài Gòn-NV) đang phục kích ở khu vực Trảng Cỏ Đỏ (thuộc xã Thạnh Đức- Gò Dầu) và đã nổ súng bắn về phía những người cách mạng.

Nghe tiếng súng địch nổ, chỉ huy đại đội 33 ra lệnh cho trung đội 1 xuất kích. Ngoài súng tiểu liên, lúc này đơn vị còn được trang bị một khẩu B40. Khẩu súng này được giao cho Tiểu đội trưởng Tiểu đội 1 Nguyễn Văn Phuôl (sinh năm 1953- hiện ngụ xã Phước Thạnh) sử dụng. Cùng xuất kích với trung đội 1 còn có y tá trưởng đại đội 33 Lê Hồng Vân (sinh năm 1951- hiện ngụ thị trấn Gò Dầu).

Trong lúc trận đánh đang diễn ra ác liệt, Tiểu đội trưởng Phuôl đưa khẩu B40 lên vai ngắm bắn. Súng vừa nổ, thì anh Phuôl bỗng ngã ra nằm bất động. Thấy đồng đội “hy sinh”, với nhiệm vụ phục vụ cứu thương cho đơn vị, y tá trưởng Lê Hồng Vân nhanh chân đến chỗ anh Phuôl chộp ngay khẩu B40 lắp đạn và nhắm thẳng vào phía địch mà bắn tiếp. Cũng như anh Phuôl, trái B40 vừa phụt ra khỏi nòng, thì anh Vân cũng ngã quẹo ra bất động.

Trước sự “hy sinh” quá bất ngờ của hai đồng đội, Trung đội trưởng Hát quyết định cho đơn vị rút lui và bằng mọi giá phải đưa hai tử sĩ về căn cứ chôn cất. Đơn vị rút đi, chỉ còn lại có hai người là Trung đội trưởng Hát và một chiến sĩ tên Phơi ở lại đưa xác tử sĩ về căn cứ. Hai tử sĩ có vóc người to lớn, còn chiến sĩ Phơi thì lại thấp bé, nên không vác nổi tử sĩ nào.

Do đó chiến sĩ Phơi làm nhiệm vụ cầm súng sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ cho anh Hát vác tử sĩ về căn cứ. Từ chỗ chiến đấu về đến căn cứ cách nhau khá xa. Một mình Trung đội trưởng Hát phải vác đến hai tử sĩ, nên anh tự… thay phiên, cứ vác tử sĩ này đi được khoảng hơn 100 mét thì hạ xuống để nằm đó.

Rồi quay lại đi vác tử sĩ kia. Cứ lần lượt như vậy, Trung đội trưởng Hát đưa 2 tử sĩ Phuôl và Vân về căn cứ, bất chấp quân địch nã pháo theo. Trong chiến đấu, những người chiến sĩ cách mạng có khẩu hiệu: “Không để thương binh, tử sĩ trúng đạn hai lần!”, nên trong mỗi lúc pháo địch bắn nhiều, anh Hát lại lấy thân mình nằm đè lên trên để bảo vệ thân xác tử sĩ; vì thế anh Hát đưa được hai tử sĩ về đến căn cứ ở rừng Thạnh Đức khá vất vả và mất nhiều thời gian.

Về đến căn cứ, đồng đội lấy tăng quấn xác hai tử sĩ Phuôl và Vân chuẩn bị đem đi chôn. Lúc này, địch lại nã pháo liên tục vào căn cứ, cán bộ, chiến sĩ phải nằm hầm tránh pháo.

Khi pháo địch ngưng bắn, mọi người định mang xác hai tử sĩ đi chôn, bỗng nhiên nhìn thấy 2 cuộn tăng bó xác tử sĩ động đậy. Anh em nhanh chóng tháo hết hai cuộn tăng quấn xác ra, thì ra hai tử sĩ Phuôl và Vân vẫn còn sống, và tức tốc được đơn vị đưa đến trạm quân y cứu chữa.

Ông Nguyễn Văn Phuôl bồi hồi xúc động kể lại, ông tham gia lực lượng C33 từ tháng 4.1969, được đơn vị trang bị cho khẩu B40 và được hướng dẫn cách bắn loại súng này kỹ càng rồi.

Ông cũng đã bắn loại súng này không biết bao nhiêu lần, nhưng không có gì xảy ra. Vậy mà lần này bị nó quật. Ông Phuôl kể tiếp, trong trận đánh đó, khi thấy một tốp lính cách chỗ ông ẩn nắp chừng 30 mét, cũng như mọi khi ông đưa khẩu súng gác lên vai, rồi nép người vào thân một cây cao su, nhắm thẳng vào phía địch mà bóp cò. Súng vừa phụt nổ, trái đạn vừa ra khỏi nòng là ông cũng bất tỉnh luôn.

Ông Lê Hồng Vân cho biết, ông tham gia cách mạng năm năm 1968, ở Đội Biệt động thị trấn Gò Dầu. Vào năm 1969 ông được cử đi học lớp y tá và năm 1970, ông được điều về Đại đội 33.

Ông Vân cho biết thêm, trong chiến tranh cán bộ y sĩ, y tá không trực tiếp chiến đấu và cũng không được trang bị vũ khí, nhưng những người làm nhiệm vụ cứu thương này đều phải biết sử dụng vũ khí và khi cần thiết cũng phải cầm súng chiến đấu.

Bản thân ông sử dụng thành thạo nhiều loại vũ khí, trong đó có B40. Trước sự hy sinh đột ngột của đồng chí Phuôl và địch thì đang đánh trả quyết liệt, bất chấp hiểm nguy, không cần đắn đo suy nghĩ, người y tá cứu thương cầm kim tiêm, ống chích, băng bông nhiều hơn cầm súng này lại sẵn sàng lao về phía đồng đội hy sinh, chộp ngay khẩu súng B40 lắp đầu đạn vào và bắn về phía đối phương. Cũng y như đồng chí Phuôl, súng vừa nổ, đầu đạn vừa bay ra khỏi nòng thì y tá Vân cũng nằm bất tỉnh.

Về việc này, theo cách giải thích của ông Nguyễn Thành Hát, súng B40 có một lỗ thông hơi ở phía bên phải. Khi bắn súng, người bắn gác súng lên vai phải, một tay nắm nòng súng, một tay nắm tay cầm.

Khi súng nổ, đầu đạn bay đi, hơi và lửa phụt ra từ lỗ thông hơi bên phải. Sở dĩ ông Phuôl và ông Vân bị bất tỉnh ngay sau khi bắn súng B40 là do khẩu súng này bị địch bắn “bị thương” lủng một lổ. Trong lúc chiến đấu, ông Phuôl không kịp phát hiện ra.

Khi bắn, hơi lại phụt ra từ chỗ súng bị thương nên khẩu súng quật mạnh vào cổ ông Phuôl và ông Vân làm cho hai ông bất tỉnh một thời gian dài. Bốn mươi ba năm qua, chết đi rồi sống lại, hai ông Phuôl và Vân vẫn mạnh khoẻ, vẫn vui vẻ gặp gỡ đồng đội cũ trong những dịp lễ tết, ngày truyền thống để ôn lại quá khứ và thăm hỏi động viên nhau trong cuộc sống.

Theo NH/ Tây Ninh online