Công nghệ sinh học đang thay đổi “bộ mặt” nền nông nghiệp Việt Nam

Phương Anh Linh

Muốn có một nền nông nghiệp phát triển bền vững, thích ứng với những biến đổi khí hậu trong tương lai thì phải xây dựng được nền tảng công nghệ sinh học.

Đó là ý kiến của GS.TS Bùi Chí Bửu – Nghiên cứu viên cao cấp Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam, khi trao đổi với PV Infonet bên lề “Tuần lễ An ninh lương thực và Đối thoại chính sách cao cấp về An ninh lương thực và nông nghiệp bền vững thích ứng với biến đổi khí hậu” APEC 2017 diễn ra tại TP. Cần Thơ vào sáng 18/8.

Đánh giá về tình hình đảm bảo an ninh lương thực của Việt Nam thời gian qua, GS.TS Bùi Chí Bửu đánh giá, hơn 20 năm qua, Việt Nam đã có những bước phát triển đáng ghi nhận, trong đó khâu đào tạo nguồn nhân lực được duy trì cho đến nay. Hiện nước ta cũng đang có đội ngũ cán bộ trẻ học tập ở nước ngoài, được tiếp cận nhiều công nghệ mới.

GS.TS Bùi Chí Bửu. 

Theo GS.TS Bửu, ứng dụng được thực hiện thường xuyên hiện nay ở nước ta là nghiên cứu về các chỉ thị phân tử để xác định những tính trạng chống chịu về sâu bệnh hại, về biến đổi khí hậu, ví dụ như khô hạn, chống chịu mặn, nhiệt độ nóng lạnh…

Giai đoạn từ năm 2009 – 2014, Chính phủ đã hoàn chỉnh bộ luật, những văn kiện hướng dẫn để cho cây trồng biến đổi gen được triển khai. Đặc biệt, ngô và đậu tương là hai cây nằm trong chiến lược chung được phát triển, hiện nước ta đã có 6 nhóm ngô được công nhận, đây là những thành tựu bước đầu.

Về môi trường, nước ta cũng có những đề tài giải quyết vấn đề môi trường. Để xử lý các chất plastic như bao ni-lon, các nhà khoa học đang tiếp cận nguồn vi sinh giải quyết vấn đề này.  

Bên cạnh đó, lĩnh vực y khoa cũng đang có những bước tiến mạnh mẽ. Cụ thể, nước ta đang tiếp cận những công nghệ tìm lời giải cho các căn bệnh hiểm nghèo, bệnh ung thư. Tuy nhiên theo GS.TS Bửu, chúng ta chỉ mới tiếp cận với các công nghệ này, còn việc ứng dụng thì rất hạn chế.

Trong lĩnh vực nông nghiệp, những cây như lúa, đậu tương, ngô là những cây trồng được phát triển rất tốt. Với đội ngũ hoạt động về công nghệ vi sinh vật đất, nước ta dùng những công nghệ làm chế phẩm phân giải lân, đang tiếp cận vấn đề cố định đạm.

Trước những biến đổi của khí hậu, GS.TS Bửu cho rằng những phương pháp tiếp cận những công nghệ nói trên mang lại rất nhiều lợi ích. Ví dụ như dùng phương pháp lai tạo giống lúa phải mất 10 năm hay thậm chí 20 năm mới có thể tìm được giải pháp về xâm nhập mặn hay khô hạn. Còn với công nghệ sinh học, chúng ta có thể rút ngắn thời gian rất nhiều.

Đặc biệt, hiện nay với công nghệ giải mã trừu tượng gen tiến hành phương pháp mới, giải quyết bài toán về chuyển nạp gen đang có hai luồng quan điểm ủng hộ và chống đối. Gần đây thế giới đã dùng phương pháp chỉnh sửa gen trong cây, về nguyên tắc cũng giống như phương pháp chuyển đổi gen. Nước ta cũng mới chỉ tiếp cận với công nghệ này chứ chưa có thành tựu nào.

“Để có nền nông nghiệp phát triển bền vững, thích ứng với những biến đổi khí hậu trong tương lai, Việt Nam cần phải triển khai được những công nghệ mà thế giới đang áp dụng. Do đó, chúng tôi đã và đang tiếp tục cử nhiều sinh viên, nghiên cứu sinh đi học tập ở nước ngoài để tiếp cận với những công nghệ mới này”, TS.GS Bùi Chí Bửu chia sẻ. 

Là một người gắn bó hơn 30 năm với cây lúa, GS.TS Bùi Chí Bửu được biết đến như một chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực nghiên cứu và lai tạo các giống lúa mới. Những nghiên cứu của ông có tính ứng dụng cao và được quốc tế công nhận. Năm 2010, với đề tài “chọn giống lúa cho đồng bằng sông Cửu Long”, GS.TS Bửu đã được trao giải thưởng Nhân tài Đất Việt.

Chia sẻ về tính ứng dụng của đề tài này, GS.TS Bửu cho biết, xuất phát từ thành công trong các đề tài bảo tồn quỹ gen cây lúa và chọn tạo giống lúa ở đồng bằng sông Cửu Long. Sau đó là nghiên cứu chuyên sâu về di truyền số lượng và di truyền phân tử làm nền tảng cho công tác chọn tạo giống lúa ở đồng bằng sông Cửu Long.

cùng chuyên mục
Kéo xuống để xem tiếp nội dung
Xem thêm trên infonet