Đảng ta luôn xác định: Công tác dân vận (CTDV) là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng nước ta và đã trở thành một truyền thống tốt đẹp, là cội nguồn sức mạnh của Đảng ta.

Xuất phát từ nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, Đảng ta luôn xác định: Dân vận và công tác dân vận là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng nước ta; là điều kiện quan trọng bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảng và củng cố mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta trong điều kiện hội nhập quốc tế càng đòi hỏi phải phát huy cao độ khối đoàn kết và sức mạnh toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh của thời đại, đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, thực hiện thành công công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Và thực tế, trong mỗi giai đoạn lịch sử cách mạng, CTDV có phương thức, nội dung khác nhau nhưng đều nhằm mục tiêu vận động tất cả các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia vào các phong trào cách mạng, thi đua yêu nước; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc; củng cố và tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân.

Trong những năm qua, CTDV luôn được cấp ủy, chính quyền, ban, ngành, đoàn thể, địa phương quan tâm đúng mức, với nhiều cách làm hay, sáng tạo và mang lại hiệu quả thiết thực. Nội dung CTDV có trọng tâm, trọng điểm, hình thức đa dạng, phong phú, xác định được mô hình phù hợp với yêu cầu của thực tiễn, bám sát nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị và tình hình địa bàn; tích cực làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. CTDV ở biên giới, vùng sâu, vùng xa đã giúp đồng bào các dân tộc thay đổi nếp sống, cách nghĩ; sống định canh, định cư, xây dựng thôn, bản văn hóa, tích cực tham gia phòng, chống tội phạm; không sinh hoạt đạo trái pháp luật, tàng trữ vũ khí, buôn bán ma túy, tái trồng cây thuốc phiện. Thông qua CTDV, đồng bào các dân tộc đã nhận rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề “dân tộc”, “tôn giáo”, “dân chủ”, “nhân quyền” để chống phá cách mạng nước ta. Đồng thời, tích cực tham gia xây dựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, hiệu lực quản lý, điều hành của cấp ủy, chính quyền, hoạt động của các ban, ngành, đoàn thể các cấp. Đội ngũ cán bộ dân vận đã tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương phối hợp thực hiện tốt công tác quốc phòng - an ninh, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc, nâng cao chất lượng chính trị của lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên, v.v. Nhờ làm tốt CTDV, niềm tin của nhân dân đối với Đảng, chế độ được tăng cường; kinh tế - xã hội tiếp tục phát triển, đời sống của nhân dân được cải thiện và ngày càng khởi sắc; chính trị, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội được củng cố và giữ vững; hoạt động đối ngoại, hội nhập kinh tế thế giới được đẩy mạnh, vị thế nước ta ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế.

Bác Hồ - mẫu mực của phẩm chất và phong cách người cán bộ dân vận.

Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta trong điều kiện hội nhập quốc tế càng đòi hỏi phải phát huy cao độ khối đoàn kết và sức mạnh toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh của thời đại, đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, thực hiện thành công công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Do vậy, từ Đại hội V, Đảng ta đã xác định “Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, tầm quan trọng của công tác vận động quần chúng chẳng những không giảm bớt mà còn tăng thêm”. Đặc biệt, trong công cuộc đổi mới đất nước bắt đầu từ Đại hội lần thứ VI, Đảng ta đã ban hành nhiều văn kiện lãnh đạo công tác vận động quần chúng của Đảng. Ngoài các nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc, Ban Chấp hành Trung ương các khóa còn ban hành những nghị quyết, chuyên đề về CTDV. Hội nghị lần thứ 8 BCH Trung ương khóa VI đã ban hành Nghị quyết số 8B “Về đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân”. Nghị quyết đã tổng kết 4 quan điểm chỉ đạo của Đảng mang tính chiến lược đối với CTDV của Đảng mà đến nay vẫn còn nguyên tính thời sự nóng hổi, đó là: (1) Cách mạng là sự nghiệp của dân, do dân và vì dân; (2) Động lực thúc đẩy phong trào quần chúng là đáp ứng lợi ích thiết thực của nhân dân và kết hợp hài hòa các lợi ích, thống nhất quyền lợi và nghĩa vụ công dân; (3) Các hình thức tập hợp nhân dân phải đa dạng; (4) Công tác quần chúng là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân. 

Bộ Chính trị khóa X đã ra Quyết định số 290-QĐ/TW, ngày 25/2/2010 về việc ban hành “Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị” một lần nữa khẳng định: “Dân vận và công tác dân vận là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng nước ta; là điều kiện quan trọng bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảng và củng cố, tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân”. Đồng thời, xác định rõ trách nhiệm lãnh đạo và thực hiện công tác dân vận của các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, của mọi cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên; cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức trong thực hiện CTDV. Có thể nói, đây là văn bản đầu tiên của Đảng có tính chế định về chế độ trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện CTDV trong hệ thống chính trị nước ta. 

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã chỉ rõ: Tình hình đất nước và bối cảnh quốc tế có những thuận lợi và cơ hội to lớn cùng những khó khăn và thách thức gay gắt trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ trong thời kỳ chiến lược tới. Vì vậy, nhân dân ta phải nắm bắt cơ hội, vượt qua thách thức là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp cách mạng hiện nay. Việc tăng cường CTDV lúc này chính là nhằm tăng cường nhân tố bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng của Đảng, của nhân dân ta. 

Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) ban hành Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 3/6/2013 về “Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới” xác định mục tiêu: Củng cố vững chắc lòng tin của nhân dân với Đảng; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân; tập hợp, vận động nhân dân thực hiện tốt các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân, tạo phong trào cách mạng rộng lớn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tiếp theo, ngày 12/12/2013 Bộ Chính trị ban hành hai quyết định: Quyết định số 217-QĐ/TW về việc ban hành “Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội”; Quyết định số 218-QĐ/TW về ban hành “Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền”. Việc ban hành các Quy chế, Quy định nói trên là sự cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khóa XI) về CTDV; là bước đột phá mới về phát huy dân chủ nhằm không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền, góp phần xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh.

Thực tiễn 85 năm qua, CTDV luôn là một nhiệm vụ chính trị quan trọng của Đảng, là một hoạt động đặc trưng trong phương thức lãnh đạo quần chúng của Đảng. CTDV không chỉ là vận động nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, mà còn là phương thức thu hút nhân dân vào việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách đó. Vì vậy, làm tốt CTDV không chỉ phát huy được sức mạnh toàn dân tộc, mà còn góp phần nâng cao vị trí, vai trò lãnh đạo, uy tín của Đảng đối với nhân dân, một nguồn lực to lớn, chủ yếu quyết định sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

BT