Cựu Phó Viện trưởng Viện KSND tỉnh Thái Nguyên hầu tòa

Hải Ngọc

Sau nhiều lần hoãn xét xử, vào ngày 23/5, TAND tỉnh Thái Nguyên đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án cựu Phó Viện trưởng Viện KSND tỉnh Thái Nguyên Dương Quang Hợp về tội ra quyết định trái pháp luật.
Bị cáo Dương Quang Hợp.

Theo cáo trạng, quá trình điều tra vụ án “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) - Công an tỉnh Thái Nguyên đã kê biên và tạm giữ một số tài sản của hai bị can Võ Khánh Dương và Nguyễn Thị Quỳnh Anh.

Số tài sản của 2 bị can trên gồm các thửa đất số 1409 tờ bản đồ số 4 tại tổ 12, phường Tân Thành, TP Thái Nguyên (tỉnh Thái Nguyên) và các thửa đất thuộc tổ hợp chăm sóc thẩm mỹ và tổ chức tiệc cưới tại tổ 17 phường Phan Đình Phùng, TP Thái Nguyên, 1 thửa đất 100m2 tại xóm Đông, xã Đồng Bẩm, huyện Đồng Hỷ và nhiều tài sản có giá trị khác là tài sản hai bị can Dương - Anh đã chiếm đoạt của các bị hại.

Riêng thửa đất số 1352 cùng tài sản trên đất tại phường Tân Thành (TP Thái Nguyên) là tài sản tự có của hai bị can Dương - Anh được Cơ quan CSĐT kê biên để đảm bảo nghĩa vụ bồi thường của các bị can trong vụ án. Kết quả điều tra, truy tố, xét xử đã xác định có 27 người bị hại, bị Dương - Anh chiếm đoạt với tổng số tiền 183 tỷ đồng.

Nguyễn Thị Quỳnh Anh (áo nâu, trái) và Võ Khánh Dương.

Cáo trạng nêu rõ, xét nguồn gốc tài sản trên vừa là vật chứng của vụ án, vừa là tài sản kê biên để đảm bảo nghĩa vụ bồi thường của các bị can nên Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Thái Nguyên ra lệnh kê biên và tạm giữ là cần thiết, đúng quy định tại Khoản 1, Điều 146 Bộ luật Tố tụng hình sự (TTHS) và Thông tư số 06/1998/TTLT ngày 24-10-1998 của liên ngành tư pháp Trung ương.

Do đó, việc bị can Dương Quang Hợp ký 3 quyết định hủy bỏ 3 lệnh kê biên tài sản của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thái Nguyên và ký 7 quyết định trả lại vật chứng trị giá 11,6 tỷ đồng cho 5 bị hại (trong số 27 bị hại); trả cho ông Nguyễn Quốc Dũng và Dương Văn Bắc không phải là người bị hại trong vụ án là vi phạm Điều 76 Bộ luật TTHS và Khoản 4 Điều 146 Bộ luật TTHS, đồng thời trái với quy định tại Thông tư số 06/1998/TTLT ngày 24-10-1998 của Liên ngành tư pháp Trung ương.

Trong vụ án, Võ Khánh Dương và Nguyễn Thị Quỳnh Anh phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” của 27 người bị hại với tổng số tiền chiếm đoạt 183 tỷ đồng. Đây là số tài sản đặc biệt lớn của các bị hại mà các bị can phải có nghĩa vụ bồi thường theo kỷ phần và thuộc quyền quyết định của Hội đồng xét xử.

Tuy nhiên, bị can Dương Quang Hợp là người được phân công chỉ đạo giải quyết vụ án, sau khi vụ án “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được kết thúc điều tra, chuyển hồ sơ sang Viện KSND tỉnh Thái Nguyên để truy tố, bị can Dương Quang Hợp đã nghe kiểm sát viên báo cáo đề xuất đường lối giải quyết vụ án.

Mặc dù biết rõ kiểm sát viên thụ lý vụ án đề xuất chuyển tài sản, vật chứng theo vụ án đến toà án để giải quyết theo thẩm quyền; biết rõ đây là vụ án đặc biệt nghiêm trọng, số tài sản các bị can còn lại để bồi thường chia đều cho bị hại theo kỷ phần chỉ có duy nhất là những tài sản đang bị Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Thái Nguyên kê biên, tạm giữ nhưng bị can Hợp vẫn chỉ đạo cấp dưới làm thủ tục, sau đó ký 3 quyết định hủy bỏ 3 lệnh kê biên tài sản của Cơ quan CSĐT và ký 7 quyết định trả vật chứng là số tài sản kê biên và tài sản tạm giữ được định giá có giá trị 11,6 tỷ đồng. Trả cho ông Dương Văn Bắc tài sản trị giá 9,9 tỷ đồng trong khi ông Bắc chỉ phải trả thay vợ chồng Dương - Anh số tiền 8,3 tỷ đồng cho ngân hàng; trả cho ông Nguyễn Quốc Dũng (anh trai của bị can Quỳnh Anh) tài sản có giá trị 833 triệu đồng mặc dù ông Dương Văn Bắc và ông Nguyễn Quốc Dũng không phải là người bị hại trong vụ án còn 5 bị hại khác chỉ được trả 921 triệu đồng. Như vậy, Dương Quang Hợp biết rõ việc ra 3 quyết định hủy bỏ 3 lệnh kê biên tài sản của Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Thái Nguyên là trái luật.

Cáo trạng khẳng định, việc ban hành các quyết định hủy bỏ lệnh kê biên tài sản và các quyết định trả lại vật chứng cho các đương sự như nêu trên của bị can Dương Quang Hợp là trái với quy định pháp luật, vi phạm Điều 76, Khoản 4, Điều 146 Bộ luật TTHS và Thông tư số 06/1998/TTLT ngày 24/10/1998 của Liên ngành tư pháp Trung ương, tạo điều kiện cho hai bị can Dương-Anh tẩu tán tài sản bị kê biên với số tiền 10 tỷ 741 triệu đồng, dẫn đến hậu quả làm 23 người bị hại khác trong vụ án mất quyền được bồi thường trong số tài sản cuối cùng của hai bị can. Đến nay nhiều người bị hại liên tục gửi đơn khiếu nại, tố cáo rất phức tạp.

Ngoài ra, các quyết định của bị can Dương Quang Hợp đã gây bất bình trong quần chúng nhân dân, nhiều cơ quan báo chí đưa tin, làm ảnh hưởng đến uy tín của ngành kiểm sát nói riêng, các ngành tư pháp nói chung.

Cáo trạng cũng xác định, đối với ông Nguyễn Xuân Cúc (nguyên Viện trưởng Viện KSND tỉnh Thái Nguyên) đã không thực hiện hết trách nhiệm của Viện trưởng theo quy định của Pháp luật. Khi công dân đến khiếu nại các quyết định trái pháp luật của cấp phó, ông Cúc không ra quyết định hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của cấp phó dẫn tới hậu quả những sai phạm kéo dài, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

Tuy nhiên, khi ra các quyết định trái pháp luật, Phó Viện trưởng không báo cáo với ông Cúc. Sau khi sự việc xảy ra, ông Cúc có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn, hối cải, trong quá công tác ông Cúc có nhiều thành tích xuất sắc và đã bị xử lý kỷ luật với hình thức khiển trách với vi phạm nêu trên, nên VKS xét thấy không cần thiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ông Cúc.

Đối với ông Hoàng Anh Sơn (nguyên kiểm sát viên Viện KSND tỉnh Thái Nguyên), mặc dù không phải là người chủ động đề xuất ban hành các quyết định trái pháp luật nêu trên, nhưng khi ông Hợp chỉ đạo, kiểm sát viên Sơn đã tiến hành làm các thủ tục và viết đề xuất để ông Hợp ký ban hành các quyết định trái pháp luật nêu trên. Ngày 13/1/2011, ông Sơn có báo cáo đề xuất và trực tiếp làm việc với 7 trường hợp được trả tài sản, thảo các quyết định hủy bỏ lệnh kê biên tài sản, quyết định trả vật chứng. Hành vi nêu trên của ông Sơn giúp sức cho ông Hợp để “Ra quyết định trái pháp luật”.

Tuy nhiên, ông Sơn chỉ là người đề xuất theo chỉ đạo của bị can Hợp; mặt khác, đối với tội danh này, chủ thể đặc biệt là người trực tiếp ký các quyết định nên hành vi giúp sức của ông Sơn không cấu thành tội “Ra quyết định trái pháp luật”.

Đối với các thành viên Hội đồng xét xử sơ thẩm của TAND tỉnh Thái Nguyên, các thành viên Hội đồng xét xử của Tòa phúc thẩm, TAND Tối cao tại Hà Nội và kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội, thực hành quyền công tố tại phiên tòa phúc thẩm “mặc nhiên công nhận thỏa thuận trái pháp luật của các đương sự và quyết định trái pháp luật nêu trên của Viện KSND tỉnh Thái Nguyên”, Cơ quan điều tra sẽ có kiến nghị với cấp có thẩm quyền để xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Dương Quang Hợp cho rằng bản cáo trạng truy tố không đúng, bị cáo làm đúng quy định của pháp luật, bị cáo bị oan nhưng sau đó bị cáo Hợp lại đưa ra những câu trả lời HĐXX và VKS có nhiều mâu thuẫn.

cùng chuyên mục
Kéo xuống để xem tiếp nội dung
Xem thêm trên infonet