Nhìn lại chặng đường 5 năm của nhiệm kỳ 2010-2015, TP Đà Nẵng đã đạt được nhiều kết quả nổi bật, đã và đang phát triển theo hướng năn động sáng tạo và ngày càng bền vững.

Trong nhiệm kỳ qua, trong bối cảnh tình hình gặp nhiều khó khăn hơn dự báo, kinh tế thành phố, vẫn duy trì mức tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng hướng, các nguồn lực xã hội được phát huy, các ngành, lĩnh vực đều có bước phát triển. Tuy còn 4 chỉ tiêu do Đại hội XX đề ra không đạt nhưng tăng trưởng vẫn ở mức cao hơn so với bình quân cả nước với GRDP tăng 9,7%/năm (bằng 1,6 lần năm 2010), GRDP bình quân đầu người tăng lên rõ rệt, năm sau cao hơn năm trước,( năm 2015 ước đạt 2.908 USD, gần bằng 2 lần năm 2010). Cơ cấu các thành phần kinh tế chuyển dịch tích cực, trong đó đặc biệt là tỷ trọng dịch vụ trong GRDP đạt 62,6% với sự bứt phá mạnh mẽ với mức tăng trưởng giá trị bình quân 12,1%/ năm, đặc biệt du lịch tăng bình quân 20,1%/năm về lượng khách và 30,6%/năm về doanh thu. Công tác quản lý điều hành ngân sách được thực hiện chặt chẽ linh hoạt, hiệu quả, tổng thu ngân sách tăng 1,4%/năm, trong đó thu nội địa tăng 12,8%/năm (không kể thu tiền sử dụng đất). Trong nhiệm kỳ qua, thành phố đã chú trọng đến phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ an ninh chủ quyền biển đảo, đầu tư và khai thác hiệu quả hạ tầng kỹ thuật cảng biển, cảng cá, giao thông, khu du lịch… Sản lượng hàng hóa qua cảng Đà Nẵng ước tăng 14,5%/năm. Thành phố thực hiện tốt các chính sách của trung ương đồng thời ban hành chính sách hỗ trợ ngư dân đóng mới tàu khai thác hải sản và dịch vụ hậu cần nghề cá.

Công tác quản lý, quy hoạch được thực hiện tốt, huy động nhiều nguồn lực đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển đô thị theo hướng văn minh, hiện đại. Nhiều công trình có quy mô lớn, kỹ thuật phức tạp, hiện đại, tạo điểm nhấn kiến trúc cảnh quan đô thị được hoàn thành: cầu Rồng, cầu Trần Thị Lý, cầu Nguyễn Tri Phương, Nút giao thông ngã ba Huế, đường vành đai phía nam, Trung tâm hành chính, nhà ga sân bay quốc tế... Tốc độ đô thị hóa tiếp tục diễn ra nhanh, ranh giới đô thị mở rộng thêm gần 2000 ha so với năm 2010.

Trung tâm hành chính Thành phố Đà Nẵng

Thành phố quan tâm đầu tư phát triển các lĩnh vực xã hội; tăng cường xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, thực hiện các chính sách xã hội giàu tính nhân văn. Chương trình thành phố “5 không”, “3 có” gắn với công tác đảm bảo an sinh xã hội được thực hiện tốt. Mục tiêu “không có hộ đặc biệt nghèo” cơ bản hoàn thành, Đề án giảm nghèo giai đoạn 2009-2015 về đích trước 3 năm, đến cuối năm 2015 không còn hộ nghèo theo chuẩn mới của thành phố. Đề  án có nhà ở được triển khai đồng bộ; trong 2 năm 2014 và 2015 đã tập trung hỗ trợ xây dựng, sửa chữa hơn 2200 nhà ở cho các gia đình chính sách , đồng bào dân tộc thiểu số.

Trong 5 năm của nhiệm kỳ, an ninh chính trị, trật tư an toàn xã hội được đảm bảo giữ vững ổn định; triển khai nhiều phương án sẵn sàng chủ động đối phó, xử lý đúng đắn các tình huống về ANCT, bảo đảm môi trường đầu tư, các hoạt động sản xuất kinh doanh và sinh hoạt của nhân dân.

Trong nhiệm kỳ qua, công tác xây dựng đảng và hệ thống chính trị không ngừng  được quan tâm đổi mới, năng lực và sức chiến đấu của toàn đảng bộ được nâng lên từng bước đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới. Công tác xây dựng chính quyền được đẩy mạnh; năng lực tổ chức thực hiện và hiệu lực quản lý nhà nước được nâng lên; cải cách tư pháp đạt kết quả tích cực. Thành phố đã tiến hành rà soát, sắp xếp các cơ quan chuyên môn, củng cố bộ máy chính quyền, triển khai phân bổ lại dân cư sắp xếp nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ dân phố. Chỉ thị 29 của Ban Thường vụ Thành ủy với trọng tâm là nội dung “5 xây, 3 chống” đã góp phần tích cực nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức. Trong giai đoạn 2010-2015, thành phố luôn thuộc nhóm dẫn đầu có kết quả tốt về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), chỉ số sẵn sàng ứng dụng CNTT (ICT); chỉ số cải cách hành chính (PAR INDEX); chỉ số hiệu quả quản trị hành chính công cấp tỉnh (PAPI) …

Trong hoạt động của Mặt trận và các đoàn  thể đã có bước đổi mới không ngừng nâng cao chất lượng cả về nội dung và phương thức hoạt động, hướng về cơ sở, chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, góp phần củng cố và làm nổi bật mối quan hệ cốt lõi giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị với nhân dân “Đảng nói dân tin; Mặt trận và các đoàn thể vận động dân theo; chính quyền làm dân ủng hộ”.

Tuy nhiên, Đảng bộ TP Đà Nẵng cũng thẳng thắn nhìn nhận những mặt hạn chế yếu kém trong nhiệm kỳ. Kinh tế tăng trưởng khá nhưng chưa thật bền vững, quy mô nền kinh tế còn nhỏ, tích lũy chưa đáp ứng yêu cầu, sức cạnh tranh và hiệu quả trên một số lĩnh vực còn thấp. Sức ảnh hưởng, lan tỏa và vai trò đầu tàu của khu vực chưa rõ nét; mô hình tăng trưởng chưa có thay đổi lớn, còn 4 chỉ tiêu do Đại hội XX đề ra chưa đạt. Kế cấu hạ tầng đô thị tuy được đầu tư phát triển nhanh nhưng có mặt chưa đồng bộ, tiến độ một số công trình còn chậm. Công tác quản lý đất đai, xây dựng còn lỏng lẻo, nhiều đồ án, dự án  quy hoạch “treo”,  tình trạng ô nhiễm môi trường tại một số điểm nóng chưa được xử lý dứt điểm gây bức xúc trong nhân dân. Lĩnh vực văn hóa - xã hội chưa được đầu tư phát triển tương xứng với tiềm năng; An ninh chính trị trật tự an toàn xã hội còn tiềm ẩn nhiều vấn đề phức tạp. Kết quả công tác xây dựng đảng trên một số mặt còn hạn chế. Chất lượng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức các cấp được nâng lên nhưng chưa thực sự đáp ứng yêu cầu. Hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước trên một số mặt còn hạn chế.

Một số chỉ tiêu chủ yếu đến năm 2020 (tính theo phương pháp giá cơ bản)

- Tổng sản phẩm xã hội trên địa bàn (GRDP) tăng bình quân 8 - 9%/năm.

- GRDP bình quân đầu người ước đạt 4.000 - 4.500 USD.

- Cơ cấu GRDP: dịch vụ 63 - 65%; công nghiệp - xây dựng 35 - 37% và nông nghiệp 1 - 2%.

- Giá trị sản xuất các ngành dịch vụ tăng bình quân 9,5 - 10,5%/năm.

- Giá trị sản xuất ngành công nghiệp - xây dựng tăng bình quân 10 - 11%/năm (trong đó, công nghiệp tăng 10,5 - 11,5%/năm).

- Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp tăng bình quân 2 - 3%/năm.

- Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tăng bình quân 15 - 16%/năm.

- Tổng thu ngân sách Nhà nước tăng bình quân 5 - 8%/năm; tổng chi ngân sách Nhà nước tăng bình quân 2 - 3%/năm.

- Tổng vốn đầu tư phát triển tăng bình quân 9 - 10%/năm.

- Giảm tỷ suất sinh 0,1‰/năm.

- Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 50 - 55%; tỷ lệ tạo việc làm tăng thêm bình quân 4 - 5%/năm.

- Hoàn thành Đề án giảm nghèo của thành phố giai đoạn 2016-2020.

- Tỷ lệ dân số sử dụng nước sạch 95 - 100%; tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn đạt 95 - 98%.

- Hằng năm phát triển trên 2.000 đảng viên mới, không còn tổ chức cơ sở Đảng yếu kém.

PV