Báo Infonet vừa nhận được bài viết của ông Phạm Việt Hùng, Trưởng BQL các KCN và Chế xuất Đà Nẵng lý giải việc TP này là một trong những địa phương đầu tiên cả nước lập KCN nhưng đến nay thu hút đầu tư vào các KCN vẫn còn nhiều khó khăn, hạn chế!

Những kết quả bước đầu

TP Đà Nẵng là một trong các địa phương thành lập khu công nghiệp (KCN) đầu tiên trên cả nước, khởi đầu là KCN Đà Nẵng (KCN An Đồn trước đây) với tổng diện tích ban đầu 303,275ha. Đến năm 1995, phê duyệt Quy hoạch chi tiết KCN Đà Nẵng với diện tích 68,32ha.

Nhà máy bia Việt Nam trong KCN Hòa Khánh là một trong những dự án có đóng góp lớn cho ngân sách Đà Nẵng, tuy nhiên những dự án như vậy chỉ mới đếm trên đầu ngón tay! (Ảnh: HC)

Tiếp nối KCN Đà Nẵng, lần lượt các KCN được thành lập và phát triển mạnh mẽ: KCN Hòa Khánh (1997: 423,5ha), KCN Liên Chiểu (1997: 373ha), KCN Hòa Cầm (2003: 137ha), KCN Hòa Khánh mở rộng (2004: 216,52ha), KCN Dịch vụ thủy sản Đà Nẵng (2006: 57,99ha). Đến thời điểm năm 2006, tổng diện tích các KCN theo quy hoạch 1.276,33ha.

Đến cuối năm 2015, quy hoạch các KCN giảm còn 1.066,52ha (tỷ lệ lấp đầy 85,01%, trong đó có 2 KCN do TP đầu tư có tỷ lệ lấp đầy 100%), giải quyết hơn 74.000 lao động. Năm 2015 các doanh nghiệp (DN) KCN đóng góp ngân sách TP hơn 5.000 tỷ đồng.

Trong đó có các dự án lớn như Công ty TNHH VBL Đà Nẵng, Công ty TNHH TCIE Việt Nam, Công ty CP Sữa Việt Nam, Công ty Cổ phần Cao su Đà Nẵng… đã đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách hàng năm của TP Đà Nẵng.

Doanh nghiệp thuê đất KCN để... chuyển nhượng, cho thuê lại!

Tuy nhiên vẫn còn đó những hạn chế, khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai hoạt động của các KCN trên địa bàn Đà Nẵng. Theo đó, quy mô KCN nhỏ, đa số nằm xen kẽ trong các khu dân cư. Nhiều dự án thuộc diện được di dời vào KCN để chỉnh trang đô thị nhưng phần lớn thiếu các điều kiện cơ bản như thiết bị công nghệ, thị trường, không có năng lực tài chính, thiếu kinh nghiệm dẫn đến bế tắc.

Bài học thực tế cho thấy, do thiếu sự chọn lọc nghiêm túc nên đã để một số dự án loại này tận dụng cơ hội thuê lại đất giá rẻ (4.200 đồng/m2/năm) và hưởng ưu đãi miễn giảm tiền thuê lại đất. Đến khi hết thời gian hưởng ưu đãi cũng là lúc các dự án này bộc lộ sự cạn kiệt năng lực tài chính, bế tắc thị trường từ đó dẫn đến chuyển nhượng hoặc cho thuê nhà xưởng.

Ngoài những dự án di dời như đã nói ở trên còn nổi lên một số doanh nghiệp không có nhu cầu đầu tư nhưng nắm bắt cơ hội lập dự án sản xuất để thuê lại đất. Qua nhiều năm, các doanh nghiệp này không triển khai dự án, sau đó chuyển nhượng hoặc cho thuê nhà xưởng để thu lợi.

Hệ thống hạ tầng kỹ thuật các KCN vừa chắp vá vừa thiếu đồng bộ, không đáp ứng cho dự án đầu tư do DN thiếu vốn đầu tư ban đầu. Qua rà soát 419 DN vào tháng 11/2015 trong 6 KCN trên địa bàn, có khoảng 60% DN có năng lực sản xuất.

Xử lý các dự án không đầu tư mà thuần túy kinh doanh bất động sản trong KCN

Trước tiên phải tập trung xây dựng các KCN mới theo quy hoạch vùng để đáp ứng nhu cầu phát triển công nghiệp, thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển của TP Đà Nẵng theo phương thức xã hội hóa, việc sử dụng ngân sách chỉ để hỗ trợ một phần cho đền bù giải tỏa. Bên cạnh đó cần hỗ trợ DN để ít nhất 80% DN có năng lực sản xuất trong các KCN hiện có.

Tạo thêm diện tích ở các KCN hiện có bằng cách tận dụng, khai thác chính mặt bằng của các KCN này. Muốn làm được việc đó cần có giải pháp căn cơ để di dời, thu hồi đất các dự án đầu tư không có thực lực, thực chất là chiếm đất nhưng không tổ chức sản xuất mà đem cho thuê lại để có quỹ đất bố trí dự án đầu tư mới vào KCN.

Trước mắt, tập trung xử lý các dự án không có cơ sở sản xuất của chính chủ đầu tư mà thuần túy là kinh doanh bất động sản trong KCN. Đối với các dự án này, cần điều chỉnh lại khung giá thuê đất cho phù hợp; thực hiện nghĩa vụ thuế theo Luật Kinh doanh bất động sản, đồng thời yêu cầu chủ đầu tư cam kết đăng ký lộ trình thời gian loại hình dự án thu hút đầu tư phù hợp với quy hoạch chi tiết KCN.

Qua kết quả rà soát vào tháng 11/2015, có 40% dự án không có năng lực sản xuất hoặc năng lực sản xuất thấp. Đối với các dự án này, trong năm 2016 sẽ tiến hành phân loại và thu hồi những dự án không có khả năng tiếp tục đầu tư.

Tạo điều kiện cho các dự án có nhu cầu chuyển nhượng thực hiện, tuy nhiên không để tình trạng và thời gian chuyển nhượng kéo dài. Trong thời hạn không quá 90 ngày kể từ ngày có văn bản hướng dẫn của BQL các KCN và Chế xuất Đà Nẵng, nếu chủ dự án không tìm được đối tác nhận chuyển nhượng thì BQL lập thủ tục thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, chấm dứt dự án để kêu gọi nhà đầu tư mới. Mục tiêu phấn đấu đến năm 2017 có được gần 90% dự án trong các KCN có năng lực sản xuất.

Lập thêm các KCN mới

Sau khi BQL các KCN và Chế xuất Đà Nẵng báo cáo, Chủ tịch và các Phó Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng đã cơ bản đồng ý chuyển Khu công nghệ thông tin số 2 thành KCN Hòa Sơn. Theo đó, Khu CNTT số 2 diện tích 55,6ha cùng phần mở rộng giai đoạn 2 khoảng 180ha được chuyển thành KCN Hòa Sơn với diện tích khoảng 240ha. Trong đó diện tích ở phía Đông đường tránh Nam Hải Vân sẽ quy hoạch phát triển kho tàng, bến bãi, dịch vụ logistic, phục vụ hậu cần cho cảng Liên Chiểu sau này.

Mở rộng KCN Hòa Cầm giai đoạn 2 ít nhất 150ha. KCN Hòa Cầm giai đoạn 2 nằm trong danh mục các KCN ưu tiên thành lập đến năm 2015, định hướng đến năm 2020 được Thủ tướng chính phủ phê duyệt tại Quyết định 1107/QĐ-TTg ngày 21/8/2006. Nay sẽ mở rộng KCN Hòa Cầm với tổng diện tích mở rộng giai đoạn 2, bao gồm phần mở rộng năm 2015 của KCN Hòa Cầm (13,1) ha, Cụm công nghiệp Cẩm Lệ (26,7 ha), trường đại học (30,6 ha) và nghiên cứu mở rộng về phía Tây và Nam ít nhất 100ha.

Đồng thời sẽ thành lập thêm các KCN mới. Trong đó, KCN Hòa Nhơn quy hoạch khoảng 500ha, bao gồm khu đất bố trí cho Nhà máy Cao su 60ha, KCN Nhật Bản 170ha, khu kho tàng mỏ đá Hòa Nhơn 198ha và khu đất hướng Nam (đang khai thác đất) đến giáp đất Quân đội và một số mỏ đá đang khai thác chuẩn bị hoàn thổ.

KCN Hòa Khương vốn đã được quy hoạch từ năm 2013 với diện tích 241,6ha, tuy nhiên hiện trạng chủ yếu là đất lúa, mồ mả, dân cư nên đã hủy quy hoạch. Vì vậy đề nghị có lộ trình tìm vị trí bổ sung quy hoạch lại KCN Hòa Khương để thu hút các ngành công nghiệp phụ trợ.

KCN Hòa Ninh triển khai 02 giai đoạn. Trong đó giai đoạn 1 là 410ha, giai đoạn 2 là 270ha. Ngoài ra, trong tương lai cần nghiên cứu theo hướng mở rộng tối đa diện tích đất cho KCN này. Đồng thời quy hoạch KCN dành cho các doanh nghiệp chế biến thủy sản chuyên sâu diện tích khoảng 30-70ha.

Nghiên cứu định hướng, phát triển thêm từ 1 - 2 KCN tại khu vực xã Hòa Bắc, huyện Hòa Vang dọc theo đường Hồ Chí Minh. Cùng với các KCN hiện có, các KCN dự kiến quy hoạch nêu trên sẽ liên kết thành cụm các KCN được kết nối bởi các tuyến đường lớn thuận lợi về giao thông: đường Hồ Chí Minh, đường tránh Nam hầm Hải Vân, đường Nguyễn Tất Thành nối dài, đường vành đai phía Tây.

Thay đổi phương thức vận động, thu hút đầu tư

Cần thay đổi phương thức vận động, thu hút đầu tư một cách linh hoạt, hướng đến một số khu vực nhất định có tiềm năng như Mỹ, EU, Nhật Bản... với nội dung phù hợp cho từng khu vực; Thực hiện nguyên tắc “ưu đãi cái mà nhà đầu tư cần, chứ không phải chỉ ưu đãi cái TP có”.

Có chính sách ưu đãi và hỗ trợ thích đáng không chỉ ưu đãi về đất mà cần có hình thức đa dạng hơn, bám sát nhu cầu của nhà đầu tư để giải quyết ưu đãi và hỗ trợ phù hợp. Chẳng hạn, kết nối giữa trường đại học kỹ thuật với các dự án có kỹ thuật, công nghệ cao (Nhật Bản) để nhà đầu tư có chương trình tiếp cận đào tạo thêm tại nhà máy thay vì nhà đầu tư phải đào tạo lại như một số dự án hiện nay.

Tăng cường và cải thiện hiệu quả công tác xúc tiến đầu tư. Đây là công tác cần có sự phối hợp của nhiều cơ quan, đơn vị và cần có chương trình xúc tiến đầu tư khả thi hơn những hoạt động mà thành phố đã thực hiện trong những năm qua.

BQL các KCN và Chế xuất Đà Nẵng cũng phải liên tục cải thiện môi trường đầu tư trong phạm vi quản lý, từ việc đơn giản hóa thủ tục hành chính, công khai vị trí lô đất trống cần kêu gọi đầu tư cho đến thái độ ứng xử, làm việc của cán bộ, công chức. Hiện BQL các KCN và Chế xuất Đà Nẵng đã thành lập 2 tổ xúc tiến đầu tư và các tổ hỗ trợ doanh nghiệp với mục đích tăng cường, hỗ trợ kịp thời nhu cầu tìm hiểu và đầu tư vào KCN.

Với bước đi hài hòa có cơ sở thực tiễn như đã trình bày về điều chỉnh thay đổi nội tại bên trong các KCN để chuyển đổi nâng cấp chất lượng KCN hiện hữu, đồng thời thực hiện giải pháp trình tự phát triển KCN mới, môi trường thu hút đầu tư vào các KCN trên địa bàn Đà Nẵng được kỳ vọng sẽ có sự cải thiện đáng kể, góp phần thực hiện thắng lợi đột phá đầu tiên trong 3 đột phá của TP nhiệm kỳ 2015 – 2020 là “Tập trung thu hút đầu tư phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao, công nghệ thông tin; khuyến khích phát triển mạnh công nghiệp phụ trợ”. 

PHẠM VIỆT HÙNG (Trưởng ban BQL các KCN và Chế xuất Đà Nẵng)