Dân ca ví dặm neo đậu hồn quê

Phan Thế Cải

Dân ca ví dặm là gì, bắt nguồn từ đâu?. Câu hỏi này chắc khiến nhiều người sẽ trả lời lúng túng, nhưng có một điều không ai có thể chối cãi dân ca ví dặm là tiếng nói yêu thương của người dân lao động

Mỗi con người sinh ra trên trái đất này đều gắn với hồn thiêng của quê hương mình, dân tộc mình. Tôi sinh ra ở vùng đất xứ Nghệ, mảnh đất dữ dằn khắc nghiệt thời tiết và thảm họa chiến tranh qua suốt bốn ngàn năm binh lữa. Một xứ sở lắm núi, nhiều đồi có con sông Lam hai tỉnh Nghệ  An và Hà Tĩnh chung dòng, người dân đôi bờ chung nhau giọng nói, chung phong tục tập quán, chung nết ăn nết ở, chung một hồn quê sâu lắng dân ca, ví dặm.

Ảnh minh họa: báo Nghệ An

Dân ca ví dặm là gì, bắt nguồn từ đâu? Câu hỏi này chắc khiến nhiều người sẽ trả lời lúng túng, nhưng có một điều không ai có thể chối cãi dân ca ví dặm là tiếng nói yêu thương của người dân lao động " một nắng hai sương" sau lũy tre làng. Dân ca ví dặm được truyền tụng từ đời này sang đời khác. 

Cùng với bầu sữa căng tròn, người mẹ đã mớm cho con mình, thổi vào hồn con mình ngay từ thuở nằm nôi : hình ảnh con cò chao trắng muốt trên cánh đồng xanh vời vợi, hình ảnh cây đa làng " bóng ngã xiêu xiêu". Một tiếng gọi đò trong đêm vắng, một ánh trăng tà buốt lạnh giọt sương khuya, một tiếng gà xao xác gọi bình minh thức dậy. 

Mảnh đất tạo hóa nên những cảnh vật quen thuộc và hồn hậu ấy để dắt con người từng bước tới từng cung bậc tình cảm từ xa tới gần, trước hết là đạo làm con " Con ơi muốn nên thân người. Lắng tai nghe lấy những lời mẹ cha. Cha mẹ nuôi con bằng trời bằng bể. Anh em như thể tay chân"

Tình mẫu tử, tình phụ tử, tình huynh đệ không chỉ thắp sáng trong hồn dân ca nước Việt, mối tình bất diệt ấy còn thắp sáng trong hàng trăm câu dân ca, trong hàng ngàn câu ví dặm Nghệ Tĩnh để mỗi cậu bé, mỗi cô bé hiểu được sâu sắc nền tảng văn hóa, nền tảng về đạo đức. Đạo đức trong dân ca ví dặm  truyền cảm cho con người, không phải là thứ ngôn ngữ bác học, không phải là những lời giáo huấn bằng những triết lý khô khan, nó là thứ ngôn ngữ bình dân nhất, mộc mạc dễ hiểu nhất nhưng người nghe xong thì ứa nước mắt, ứa nước mắt vì yêu thương, ứa nước mắt vì xúc động, ứa nước mắt vì lỗi lầm mà mình phải kịp thời sám hối  để trở lại được đích thực hai chữ thiêng liêng "con người". 

Chính những người sáng tạo ra dân ca, ví dặm họ từ xa xưa họ đâu dám nghĩ sẽ có một ngày sản phẩm của mình  được thế giới công nhận  là di sản phi vật thể bất hủ của nhân loại, được thế hệ muôn đời lưu truyền, gìn giữ. Điều khát vọng lớn nhất của họ thứ  "văn học truyền miệng" lúc ấy  có trở thành "mầm cây" được "đơn hoa kết trái" trong tâm hồn người không, có trở thành sức mạnh lay chuyển được ý thức hệ con người không.  

Không ai có thể sưu tầm được bài "Phụ tử tình thâm" ra đời vào ngày tháng năm nào, cũng không ai hiểu được tác giả của nó là một người sáng tác hay một nhóm người sáng tác. Nhưng từ bao nhiêu thập kỷ rồi, bài vè "Phụ tử tình thâm" thân thuộc với người dân Nghệ An và Hà Tĩnh như cơm ăn, nước uống. "Phụ tử tình thâm" như lời răn của cha, như lời khuyên của mẹ và chính là "cẩm nang" sống cho mỗi thế hệ, dầu họ  lớn lên ở đâu, làm gì cũng không quên được đức sinh thành, không quên được  nơi "chôn rau cắt rốn".

Nhà thơ Huy Cận viết "Tình xứ Nghệ không mau. Nhưng bén rồi sâu lắng " thì dân ca ví dặm xứ Nghệ cũng vậy, không réo rắt như cung đàn, không êm ả mượt mà như dân ca quan họ, cái chất của dân ca ví dặm  xứ Nghệ đó là sự chân thực bộc bạch, cởi mở như  cái đức tính người xứ Nghệ " yêu thật bụng" " thương thật lòng". Trong cuộc sống tôn trọng tình cảm chân thật chính là đề cao lương tâm và phẩm giá con người.

Người sáng tác dân ca ví dặm thời ấy, chắc không khép kín phòng văn hì hục viết. Họ sáng tác ngay khi cầm cày thúc trâu trên đồng ruộng, khi đang khom lưng cấy mạ giữa đồng ruộng, khi đang chèo thuyền khoan thai trên sông nước và cả những lúc mỏi gối, chồn chân khi trèo hái củi giữa non xanh. 

Ai biết rằng đằng sau giọt mồ hôi của người lao động đã kết tinh thành những hạt ngọc này. Chúng ta nghe trong sâu thẳm thời gian tiếng đồng vọng của ông cha ta thuở ấy : "Khoan khoan.. đợi với ơ.. phường. Trên vai gánh nặng dưới đoạn  đường khó đi ". Chúng ta nhìn rõ mồn một được hình ảnh người nông dân vất vả làm lụng trong ca dao :" Cày đồng đang buổi ban trưa. Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày. Ai ơi bưng bát cơm đầy. Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần". Một hạt thóc năm nắng mười mưa, được thốt lên từ nội tâm người dân lao động. Nhưng tiếng kêu ấy không phải là tiếng kêu thảng thốt, bi lụy của kẻ yếu mềm, nó trở thành lời tâm sự giữa người với người rằng : con người phải biết đối mặt với gian khổ, mới tạo nên  " bát cơm đầy ". 

Dẫu " cay đắng muôn phần" nhưng đằng sau chuổi cay đắng này, trí tuệ của con người được khám phá, được đúc rút kinh nghiệm. Khi những giới nghiên cứu về bảo tồn văn hóa cổ càng khám phá dân ca ví dặm xứ Nghệ càng thấy đa dạng hơn, phong phú hơn muôn mặt muôn vẽ của đời thường. Dân ca, ví dặm đã truyền bá cho con người bằng tình yêu lao động, bằng kinh nghiệm trong sản xuất từ gieo trồng, trĩa vãi, gặt hái mùa màng. 

Khi hạn trắng đồng, thiếu nước cấy cho lúa biết sử dụng "gầu giai" tát ở nơi "ruộng thấp", biết sử dụng "gầu sồng" tát ở nơi "ruộng cao". Rồi quanh năm nông vụ chí kỳ, người dân xứ Nghệ đã chạy đua cùng thời tiết, từ kinh nghiệm quý báu ấy truyền cái khôn cho người đời bằng ngôn ngữ dễ đọc, dễ thuộc và dễ nhớ đó là ca dao, dân ca, đó là những bài vè chứa đựng cụ thể những giải pháp hữu ích nhất.

Dân ca ví dặm như một hơi men  của rượu khi nói về tình bạn tình yêu. Tình bạn trong dân ca, ví dặm là sự keo sơn bền chặt, là sự tương tri tương ngộ, trong sáng như pha lê, đẹp như ánh trăng rằm. Tình yêu là sức mạnh vô hình không gì lay chuyển nổi " Ví dù thầy mẹ em có đánh đập em chín chục một trăm. Đập rồi em lại dậy vẫn nhất tâm em yêu chàng "

Còn gì lãng mạn hơn trong mênh mông dòng chảy của sông Lam thơ mộng ngày ấy, bao nhiêu cuộc du thuyền bằng những câu ví dặm giao duyên bên nam và bên nữ. Cuộc giao duyên đối đáp đã làm cạn cả ánh trăng khuya, nhưng chẳng bên nào muốn rời bỏ cuộc chơi. Bắt đầu cuộc chơi  người con trai "đánh tiếng" bằng những lời  " lời tỏ tình" rất tế nhị và người con gái lên tiếng "đối đáp" ngay. Để rồi hai người lại tiếp tục bộc lộ tâm tư, hoàn cảnh, duyên cớ của mình. Thưở ấy không ít những cuộc chơi đã nên nhân, nên nghĩa, nên bạn tình và xe duyên vợ chồng.

Dân ca ví dặm xứ Nghệ ngàn đời, dầu ở mỗi thời đại, mỗi hoàn cảnh lịch sử khác nhau đều hàm chứa tất cả nhưng câu vui, câu buồn, câu thương, câu giận. Lời tương phùng tương ngộ, lời tri ân, lời giã biệt. Nhưng tất cả những cung bậc trầm bổng, sảng khoái, bi thương ấy đều hướng cho con người tới : chân - thiện - mỹ, hướng cho con người tới ước mơ và khát vọng về tương lai.

Dân tộc mình đã trải qua hai cuộc kháng chiến thánh thần chống Pháp và chống Mỹ, còn gì đẹp hơn khi được chứng kiến hàng ngàn dân công kĩu kịt vai gánh, vai gồng, miệng vẫn không ngớt hò dân ca Nghệ Tĩnh khi qua đèo Lũng Lô, khi vượt dốc Pha Đin để bước chân mình thêm sức gió tiến nhanh tới chiến hào Điện Biên Phủ. 

Còn gì đẹp hơn dân ca xứ Nghệ được chuyền lữa cho  những cô gái mở đường  Trường Sơn, cho anh bộ đội ngồi trên mâm pháo, truyền lữa cho  người chiến sĩ giữa bưng biền Đồng Tháp  đang thọc sâu vào "sào huyệt" quân thù. Họ sáng lên trong ánh mắt khi được nghe ví dặm " Bạn tình ơi" ví dặm " Giận thương " " Phong thư Sông Lam ", những làn điệu dân ca được truyền tải từ Đài tiếng nói Việt Nam, được các diễn viên đoàn văn công trực tiếp hát giữa chiến trường. Mỗi khúc dân ca xứ Nghệ là hình bóng quê nhà, hình bóng người thân,  máu thịt và hồn thiêng tổ quốc, giục giã tay súng họ lên nòng.

Đất nước reo vui khúc khải hoàn ca, dân ca ví dặm xứ Nghệ lại reo vui náo nức với hơi thở của thời đại mới. Bao nhiêu hoạt cảnh dân ca, bao nhiêu những nghệ sĩ tài năng và đam mê dân ca được "bung" được "hát" thỏa sức trên sân khấu. Con thuyền vẫn biết về bến cũ  sông quê, con người xứ Nghệ vẫn biết tìm về quá khứ để phục chế lại những gì đã mai một, để cho dòng dân ca sâu lắng hơn, tươi trẻ hơn, làm đẹp thêm  những gì người xưa gửi gắm.

 " Chớ than phận khó ai ơi. Còn da lông mọc còn chồi nẩy cây ". Người xứ Nghệ như vậy đấy, một câu châm ngôn bằng dân ca cha ông đã dạy chúng ta tự ngàn đời và chúng ta hiểu rằng : " Bao giờ Hồng Lĩnh hết cây. Sông Lam hết nước đó đây hết tình". Cây không bao giờ mất, nước không bao giờ hết, thì dân ca ví dặm xứ Nghệ vẫn như dòng sông xanh chảy mãi tới vô cùng.

Tháng 1/2015

cùng chuyên mục
Kéo xuống để xem tiếp nội dung
Xem thêm trên infonet