Từ năm 1966, để đối phó và bảo vệ mình trước các trận địa tên lửa phòng không S-75 Dvina (SA-2 Guideline) mà Liên Xô cung cấp cho Việt Nam các máy bay của không lực Mỹ đã phải tăng cường trang bị hệ thống gây nhiễu áp chế...

Các máy bay tiêm kích, tiêm kích bom và cường kích của Mỹ được trang bị hệ thống gây nhiễu có vỏ bọc mới tên là QRC-160-1 (hay còn gọi là ALQ-71). QRC-160-1 được lắp dưới giá treo ở dưới cánh máy bay có tác dụng gây nhiễu ngụy trang, tự bảo vệ cho đội hình trinh sát/ tấn công trước các hệ thống phòng không đối phương. Biên đội 4 chiếc máy bay mang hệ thống QRC-160-1 được Mỹ gọi là đôi hình QRC. Số lượng hệ thống gây nhiễu được mang càng nhiều thì càng khó bắt bám và bắn hạ. 

May bay Republic F-105D Thunderchief  mang thiết bị gây nhiễu điện tử của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam

Đến năm 1967, Mỹ đưa vào chiến trường hệ thống gây nhiễu có vỏ bọc thế hệ mới tên là ALQ-72 với công suất lớn hơn, gây nhiễu trùm thêm sang đạn tên lửa khiến tên lửa mất điều khiển và rơi xuống đất.

Sau này khi Mỹ mở màn cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ 2 ở miền bắc, các máy bay được trang bị những hệ thống gây nhiễu mới bao gồm ALQ-87 và ALQ-101, ALQ-119, cùng với sự xuất hiện các máy bay chuyên chế áp hệ thống phòng không có tên là “Wild Weasel” trang bị các tên lửa chống bức xạ AGM-78 Standard và AGM-45 Shrike để tấn công các hệ thống phòng không S-75 Dvina cũng như các trạm radar mặt đất của ta. 

Các máy bay ném bom chiến lược như B-52 Statoforstress cũng là những “trung tâm gây nhiễu” với nhiều loại hệ thống gây nhiễu khác nhau được trang bị cho những “pháo đài bay “ này, khiến các lực lượng Phòng không của ta khó bắn hạ hơn, tuy nhiên nhờ sự dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, bộ đội phòng không của Việt Nam đã “vạch nhiễu tìm thù” và bắn rơi hàng chục chiếc B-52 và nhiều loại máy bay khác, đánh bại âm mưu chiến tranh phá hoại miền bắc của Mỹ và làm nên chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” vẻ vang thế giới.

Dưới đây là danh sách những máy bay mang hệ thống gây nhiễu trong đội hình và những hệ thống gây nhiễu có vỏ bọc được Mỹ sử dụng

Hệ thống gây nhiễu có vỏ bọc được Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam:
Hệ thống gây nhiễu băng sóng A, E có vỏ bọc QRC-160-1 (AN/ALQ-71)
Hệ thống gây nhiễu băng sóng I có vỏ bọc QRC-160-2 (AN/ALQ-72)

Hệ thống gây nhiễu băng sóng D, G có vỏ bọc QRC-160-8 (AN/ALQ-87) 

Hệ thống gây nhiễu tần số 2.6-5.2GHz có vỏ bọc AN/ALQ-101 (hệ thống này khi sử dụng trên F-105G Wild Weasel có tên là AN/ALQ-105)

...và các hệ thống gây nhiễu có vỏ bọc như AN/ALQ-119 và AN/ALQ-99

Các máy bay mang thiết bị gây nhiễu trong đội hình không quân Mỹ tham chiến ở Việt Nam:

Máy bay tiêm kích bom North American F-100D Super Sabremang thiết bị gây nhiễu.Dài: 15,2m, sải cánh: 11,81m, cao: 4,95m, trọng lượng rỗng: 9.500kg, tốc độ tối đa: Mach 1,3, tầm bay: 3.210km, trần bay: 15.000m.

 

Republic F-105D Thunderchief

Máy bay tiêm kích bom. Dài: 19,63m, sải cánh: 10,65m, cao: 5,99m, trọng lượng rỗng: 12.470kg, tốc độ tối đa: Mach 2,08, tầm bay: 3.550km, trần bay: 14.800m.

McDonnell Douglas F-4D Phantom II

Máy bay tiêm kích bom. Dài: 19,2m, sải cánh: 11,7m, cao: 5,0m, trọng lượng rỗng: 13.757kg, tốc độ tối đa: Mach 2,2, tầm bay: 2.600km, trần bay: 18.300m.

McDonnell RF-101C Voodoo “Long Bird” 

Máy bay trinh sát chiến trường. Dài: 20,55m, sải cánh: 12,09m, cao: 5,49m, trọng lượng rỗng: 12.925kg, tốc độ tối đa: Mach 1,72, tầm bay: 2.450km, trần bay: 17.800m.
General Dynamics F-111A Aardvark

Máy bay tiêm kích bom cánh cụp cánh xòe. Dài: 22,4m, sải cánh: 19,2m (xòe) 9,75m (cụp), cao: 5,22m, trọng lượng rỗng: 21.400kg, tốc độ tối đa: Mach 2,5, tầm bay: 5.590km, trần bay: 20.100m.

Boeing B-52G Stratofortress 

Máy bay ném bom chiến lược. Dài: 48,5m, sải cánh: 56,4m, cao: 12,4m, trọng lượng rỗng: 83.250kg, tốc độ tối đa: 1.047km/h, tầm bay: 16.232km, trần bay: 15.000m.

McDonnell Douglas F-4J Phantom II 

Máy bay tiêm kích bom. Dài: 19,2m, sải cánh: 11,7m, cao: 5,0m, trọng lượng rỗng: 13.757kg, tốc độ tối đa: Mach 2,2, tầm bay: 2.600km, trần bay: 18.300m.

Vought F-8E Crusader

Máy bay tiêm kích chiếm ưu thế trên không. Dài: 16,53m, sải cánh: 10,87m, cao: 4,8m, trọng lượng rỗng: 7.956kg, tốc độ tối đa: Mach 1,86, tầm bay: 2.795km, trần bay: 17.700m.

Douglas A-4E Skyhawk

Máy bay cường kích. Dài: 12,22m, sải cánh: 8,38m, cao: 4,57m, trọng lượng rỗng: 4,750kg, tốc độ tối đa: 1.083km/h, tầm bay: 3.220km, trần bay: 12.880m.

Grumman A-6A Intruder

Máy bay cường kích ban đêm. Dài: 16,64m, sải cánh: 16,15m, cao: 4,57m, trọng lượng rỗng: 11.630kg, tốc độ tối đa: 1.040km/h, tầm bay: 5.220km, trần bay: 12.400m.

Ling-Temco Vought A-7E Corsair II

Máy bay cường kích. Dài: 14,06m, sải cánh: 11,08m, cao: 4,9m, trọng lượng rỗng: 8.676kg, tốc độ tối đa: 1.111km/h, tầm bay: 2.485km, trần bay: 13.000m. 

North American A3J-3P (RA-5C) Vigilante

Máy bay trinh sát chiến trường. Dài: 23,32m, sải cánh: 16,16m, cao: 5,91m, trọng lượng rỗng: 14.870kg, tốc độ tối đa: Mach 2,0, tầm bay: 2.909km, trần bay: 15.880m.

Các máy bay chế áp hệ thống phòng không “Wild Weasel” của Không quân Mỹ

North American F-100F “Wild Weasel I” 

Máy bay chế áp hệ thống phòng không. Dài: 15,2m, sải cánh: 11,81m, cao: 4,95m, trọng lượng rỗng: 9.500kg, tốc độ tối đa: Mach 1,3, tầm bay: 3.210km, trần bay: 15.000m. 

McDonnell Douglas F-4C “Wild Weasel II” trang bị với tên lửa chống bức xạ AGM-45 Shrike

Máy bay chế áp hệ thống phòng không. Dài: 19,2m, sải cánh: 11,7m, cao: 5,0m, trọng lượng rỗng: 13.757kg, tốc độ tối đa: Mach 2,2, tầm bay: 2.600km, trần bay: 18.300m.

Republic F-105G “Wild Weasel III” trang bị với tên lửa chống bức xạ AGM-45 Shrike (giá treo ngoài cùng) và tên lửa chống bức xạ AGM-78 Standard (giá treo phía trong) 

Máy bay chế áp hệ thống phòng không. Dài: 19,63m, sải cánh: 10,65m, cao: 5,99m, trọng lượng rỗng: 12.470kg, tốc độ tối đa: Mach 2,08, tầm bay: 3.550km, trần bay: 14.800m.

Grumman A-6B Intruder trang bị với tên lửa chống bức xạ AGM-78 Standard

Máy bay chế áp hệ thống phòng không. Dài: 16,64m, sải cánh: 16,15m, cao: 4,57m, trọng lượng rỗng: 11.630kg, tốc độ tối đa: 1.040km/h, tầm bay: 5.220km, trần bay: 12.400m.


Tri Năng