Theo thống kê của Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn, tính đến tháng 9/2016, mới chỉ có 4.424 doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, chiếm tỷ lệ 0,95% tổng số doanh nghiệp có đăng ký và đang hoạt động trong nền kinh tế.

Một trong những quan điểm mấu chốt của Đề án tái cơ cấu nông nghiệp là tăng cường sự tham gia của tất cả các thành phần kinh tế, trong đó Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, nông dân là chủ thể và doanh nghiệp giữ vai trò nòng cốt. Nói cách khác, doanh nghiệp cần hỗ trợ, dẫn dắt nền nông nghiệp phát triển bền vững trong nông nghiệp. Muốn phát triển ngành nông nghiệp theo hướng công nghệ cao, quy mô lớn, trước tiên phải có lực lượng doanh nghiệp đủ năng lực tham gia, phải có vốn và quỹ đất đủ lớn. Hiện nay, đất đai tại các vùng nông nghiệp đều có sự phân tán, chia cắt nhỏ lẻ cho các nông hộ nên việc tích tụ ruộng đất là một vấn đề nan giải.

Theo ông Nguyễn Đức Kiên, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, việc tích tụ ruộng đất của người nông dân đã tạo điều kiện để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư hơn vào nông nghiệp. Ông Kiên lấy ví dụ về trường hợp thành công ở Kiến An, An Lão, Hải Phòng, nhiều doanh nghiệp ở thành phố đã về nông thôn thuê đất của người nông dân để trồng ớt xuất khẩu. Yêu cầu họ đặt ra là tập hợp được trên 30ha đất tập trung, sau đó họ thuê và đưa vào sản xuất. Cùng với đó, họ thuê luôn người nông dân làm công nhân nông nghiệp trên mảnh đất đó với mức tiền công trung bình 100.000 đồng/ngày thường, 150.000 đồng/ngày vụ thu hoạch.

“Vậy là ngoài tiền cho thuê đất, nông dân còn được trả lương cho công việc hằng ngày là chăm sóc ớt trên mảnh ruộng của mình. Những người nông dân riêng lẻ đã không còn phải đối mặt với việc gồng mình lên để đi vay sản xuất nông nghiệp, ông Nguyễn Đức Kiên nói.

Một mô hình liên kết giữa doanh nghiệp và người nông dân.

Theo đề xuất của ông Nguyễn Đức Kiên, nên chăng hội nông dân và chính quyền địa phương nên hình thành một “ngân hàng đất”, ngân hàng này nhận ruộng của người nông dân, giống như thuê lại đất của người nông dân rồi cho các doanh nghiệp muốn đầu tư vào nông nghiệp thuê lại đất.

“Nó sẽ như ngân hàng xã hội đất, là doanh nghiệp dịch vụ công không lợi nhuận, hoặc có thì là dựa trên kết quả kinh doanh đất của doanh nghiệp. Lúc này, người nông dân sẽ yên tâm rằng ruộng của họ vẫn còn, nó không mất đi như khi giao đất cho khu công nghiệp, nhưng người ta lại cũng giải quyết được việc làm, thu nhập. Đây chính là ly nông bất ly hương, trở thành người công nhân nông nghiệp, tạo điều kiện để các doanh nghiệp lớn đầu tư vào nông nghiệp.” ông Nguyễn Đức Kiên nói.

Tuy nhiên, đầu tư của doanh nghiệp vào nông nghiệp, nông thôn cũng còn bộc lộ nhiều hạn chế do nguyên nhân từ chính năng lực của doanh nghiệp, cũng như từ những bất cập của cơ chế, chính sách. Theo thống kê của Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn, tính đến tháng 9/2016, mới chỉ có 4.424 doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, chiếm tỷ lệ 0,95% tổng số doanh nghiệp có đăng ký và đang hoạt động trong nền kinh tế. 

Doanh nghiệp nông nghiệp chủ yếu có quy mô vừa và nhỏ, chiếm 96.53%, trong đó 50% là doanh nghiệp siêu nhỏ. Các doanh nghiệp này cũng có năng lực khoa học công nghệ yếu, mức độ cơ giới hóa thấp, chủ yếu sử dụng công nghệ rẻ tiền hoặc công nghệ cũ, đặc biệt là về công nghệ chế biến làm hạn chế giá trị gia tăng của nông sản Việt Nam. 

Theo chuyên gia kinh tế Cấn Văn Lực, tính đến cuối năm 2015, tổng vốn FDI đăng ký đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp ở mức 3,65 tỷ USD với 521 dự án còn hiệu lực, chiếm khoảng 1,3% tổng vốn FDI vào Việt Nam và 2,6% về tổng số dự án. Trong khi đó, tính đến tháng 9/2016, dư nợ cho vay nông nghiệp, nông thôn đạt 895.000 tỷ đồng, chiếm khoảng 18% tổng dư nợ của nền kinh tế. So với năm 2009, khi chưa có Nghị định 41/2010/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, dư nợ tín dụng đối với nông nghiệp, nông thôn đã tăng gấp 3 lần với tốc đô tăng trưởng bình quân khoảng 19%/năm.  

Trên thực tế, việc gắn kết giữa doanh nghiệp với người nông dân theo quy luật cung- cầu của thị trường vẫn chưa được thành công như kỳ vọng, cả hai đều cần đến nhau và mong muốn hợp tác song lại thiếu sợi dây liên kết bền chặt. Vì vậy, cần có chính sách rõ ràng để ràng buộc và gắn kết giữa doanh nghiệp và người nông dân.

Việc thiếu cơ sở pháp lý để đánh giá giá trị tài sản được xem là trở ngại lớn nhất đối với doanh nghiệp và người nông dân. Theo bà Trịnh Thị Lý, chủ một trang trại nuôi lợn giống tại xã Phù Lương, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, để mở rộng diện tích khu trang trại lên đến 7ha, gia đình bà Lý đã vay ngân hàng 2,5 tỷ đồng. Tuy nhiên, gia đình bà không thể vay tín chấp, việc thế chấp ngân hàng bằng đất nông nghiệp và tài sản trên đất cũng không được ngân hàng chấp nhận vì vướng mắc trong việc định giá tài sản.

“Để vay 2,5 tỷ đồng từ ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, chúng tôi đã phải thế chấp 6 bìa đỏ, trong đó có 5 bìa đỏ có tài sản gắn liền trên đất, ít nhất là nhà 2 tầng kiên cố, tổng diện tích đất là hơn 4.200m2,”, bà Trịnh Thị Lý nói.

Ông Nguyễn Tiến Đông - Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước – cho rằng, vướng mắc lớn nhất trong việc định giá và tài sản thế chấp là từ đất nông nghiệp đầu tư các trang trại chăn nuôi, tài sản xây trên đất nông nghiệp rất khó định giá, ngân hàng có đồng ý thì cơ quan công chứng cũng không xác nhận vì không có đủ cơ sở pháp lý.

Theo đại diện của Ngân hàng TMCP Bắc Á, liên kết trong sản xuất là xu thế phát triển tất yếu của nông nghiệp hiện đại, trong đó không thể thiếu được mối liên kết giữa doanh nghiệp và người dân. Mô hình liên kết này sẽ làm giảm áp lực cho ngân hàng bởi dòng tiền vốn phục vụ cho việc sản xuất, chế biến sẽ không còn tập trung vào ngân hàng mà có thể huy động từ các chủ thể khác trong nền kinh tế. Bên cạnh đó, để đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư vào nông nghiệp, vấn đề không phải chỉ đưa ra chính sách mà quan trọng là chính sách đó phải rõ ràng, minh bạch, nhất quán, dài lâu để nhà đầu tư yên tâm sản xuất. 

Nguyễn Tuân