Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn đã quán triệt sâu sắc và triển khai thực hiện nghiêm túc, có kết quả Chỉ thị số 36-CT/TW của Bộ Chính trị và các quy định, hướng dẫn của Trung ương về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần
Phát biểu của đồng chí Ngô Văn Dụ, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn khóa XVI, nhiệm kỳ 2015- 2020.

 Theo sự phân công của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, hôm nay, tôi rất vui mừng cùng các đồng chí đại diện các cơ quan Trung ương về dự Đại hội lần thứ XVI Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn. Thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, tôi nhiệt liệt chào mừng các đồng chí lão thành cách mạng, các mẹ Việt Nam anh hùng, các đồng chí nguyên lãnh đạo tỉnh, các vị khách quý và 348 đại biểu ưu tú đại diện trên 55.000 đảng viên của Đảng bộ về dự Đại hội. Tôi thân ái gửi tới toàn thể cán bộ, đảng viên, quân và nhân dân các dân tộc tỉnh nhà lời thăm hỏi và chúc mừng tốt đẹp nhất. Chúc Đại hội Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ XVI thành công tốt đẹp.                                   

Đồng chí Ngô Văn Dụ, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương.

Hơn một năm qua, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn đã quán triệt sâu sắc và triển khai thực hiện nghiêm túc, có kết quả Chỉ thị số 36-CT/TW của Bộ Chính trị và các quy định, hướng dẫn của Trung ương về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng. Các đồng chí vừa chỉ đạo triển khai và tổ chức thành công đại hội đảng bộ cấp cơ sở và cấp trên cơ sở, vừa tập trung chuẩn bị Đại hội Đảng bộ tỉnh theo đúng quy định. Các báo cáo trình Đại hội đã được chuẩn bị công phu, nghiêm túc, sát với thực tiễn của địa phương; đồng thời đã tiếp thu khá đầy đủ các ý kiến góp ý, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Tôi thống nhất cao với nội dung các báo cáo, đồng thời nhấn mạnh và lưu ý thêm một số điểm chủ yếu sau đây:

Toàn cảnh phiên khai mạc Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI. Ảnh: Vũ Lê Minh    

Lạng Sơn là một tỉnh miền núi biên giới, có nhiều đồng bào các dân tộc cùng sinh sống, điều kiện kinh tế - xã hội tuy đã có bước phát triển nhưng cũng còn rất nhiều khó khăn. Năm năm qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, sự quan tâm giúp đỡ của các bộ, ban, ngành, các đoàn thể ở Trung ương, sự hợp tác phối hợp của các tỉnh bạn, trong bối cảnh vừa có thời cơ, thuận lợi, vừa có khó khăn, thách thức, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Lạng Sơn đã có quyết tâm chính trị cao, đoàn kết, thống nhất, khơi dậy được sự phấn đấu, nỗ lực, sáng tạo của toàn dân, toàn quân, vượt qua khó khăn, thách thức, huy động các nguồn lực, khai thác các tiềm năng lợi thế của tỉnh và đã đạt được những thành tựu khá toàn diện trên các lĩnh vực, cơ bản hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội XV của Đảng bộ tỉnh đề ra.

Kinh tế, xã hội của tỉnh tiếp tục ổn định và phát triển khá. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, năng lực sản xuất, kinh doanh được tăng cường đáng kể. Lĩnh vực kinh tế dịch vụ, thương mại, xuất nhập khẩu phát triển mạnh; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu tăng gấp 2 lần năm 2010, chiếm gần 70% thu ngân sách của tỉnh. Đã tập trung phát triển kinh tế cửa khẩu nhất là Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng – Lạng Sơn trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng, phát triển một số loại dịch vụ tạo nhiều việc làm cho người lao động. Hoạt động du lịch phát triển cả về lượng khách, loại hình dịch vụ và chất lượng phục vụ nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới có bước phát triển. Đã hình thành một số vùng sản xuất hàng hóa tập trung quy mô lớn và mô hình kinh tế hộ, kinh tế hợp tác sản xuất gắn với chế biến và xuất khẩu theo nhu cầu thị trường; giá trị gia tăng ngành chăn nuôi tăng gần 1,7 lần so với đầu nhiệm kỳ. Kinh tế đồi rừng có hiệu quả hơn. Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới được quan tâm chỉ đạo triển khai, đến hết năm 2015 có 13 xã đạt chuẩn nông thôn mới.

Các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khỏe nhân dân, văn hóa, xã hội, môi trường có nhiều tiến bộ. Chất lượng giáo dục đào tạo được nâng lên; công tác đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực được quan tâm; tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 33% năm 2010 lên trên 43% năm 2015. An sinh xã hội được bảo đảm tốt hơn, công tác giảm nghèo đạt kết quả tích cực; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện.

Chính trị - xã hội ổn định, khối đại đoàn kết các dân tộc được củng cố vững chắc. Quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm, chủ quyền biên giới quốc gia được giữ vững; cơ bản không để hình thành các tụ điểm phức tạp về buôn lậu, gian lận thương mại. Các giải pháp phòng chống tham nhũng lãng phí được coi trọng chỉ đạo thực hiện. Quan hệ đối ngoại của tỉnh được mở rộng, nhất là với tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc).

Công tác xây dựng Đảng về tư tưởng chính trị và tổ chức, các lĩnh vực công tác cán bộ, kiểm tra, dân vận có bước chuyển biến tích cực; hệ thống chính trị được củng cố và ngày càng vững mạnh. Năng lực lãnh đạo, quản lý điều hành của các cấp ủy đảng, chính quyền được nâng lên, việc chỉ đạo và tổ chức thực hiện có chuyển biến tiến bộ, phát huy được sức mạnh tổng hợp để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ. Việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về xây dựng Đảng và Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” tạo được chuyển biến bước đầu.

Những kết quả nói trên đã đóng góp thiết thực vào việc thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, tạo ra thế và lực mới, là tiền đề quan trọng để Lạng Sơn phát triển nhanh, bền vững trong những năm tới. Thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, tôi nhiệt liệt hoan nghênh, biểu dương sự nỗ lực phấn đấu và những kết quả mà Đảng bộ, quân và nhân dân các dân tộc tỉnh Lạng Sơn đã đạt được trong nhiệm kỳ qua.

Các đại biểu tham dự Đại hội.   Ảnh: Nông Đình Quang

Cùng với việc khẳng định những kết quả quan trọng đã đạt được trong nhiệm kỳ vừa qua chúng ta cũng cần nhận thức sâu sắc về những mặt còn hạn chế, yếu kém như đã nêu trong báo cáo chính trị trình Đại hội, đó là: Kinh tế tuy có bước tăng trưởng khá nhưng chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của tỉnh; phát triển chưa bền vững, quy mô còn nhỏ, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh chưa cao; chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động còn chậm; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển; các lĩnh vực văn hóa – xã hội có mặt còn hạn chế. Kết quả giảm nghèo chưa vững chắc, tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo, tái nghèo còn cao. Đời sống của một bộ phận nhân dân ở nông thôn, vùng cao, biên giới còn khó khăn. An ninh chính trị, trật tự xã hội, nhất là vùng biên giới, cửa khẩu vẫn có những nhân tố tiềm ẩn về tội phạm, tệ nạn xã hội; tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại, trật tự, an toàn xã hội, nhất là an toàn giao thông vẫn là những vấn đề bức xúc.

Công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trên một số mặt chưa đáp ứng yêu cầu; công tác quản lý, điều hành trên một số lĩnh vực còn thiếu chủ động, hiệu quả chưa cao, kỷ luật, kỷ cương chưa nghiêm. Công tác tổ chức, cán bộ, nhất là xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chưa đáp ứng được yêu cầu, còn để tình trạng hụt hẫng cán bộ lãnh đạo chủ chốt. Một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, năng lực trình độ còn hạn chế, tinh thần trách nhiệm chưa cao, trong tổ chức thực hiện còn có tiêu cực, có biểu hiện tha hóa, vi phạm kỷ luật, làm giảm lòng tin của nhân dân. Việc khắc phục những hạn chế, khuyết điểm được chỉ ra sau kiểm điểm theo Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về xây dựng Đảng ở một số cơ quan, đơn vị thiếu quyết liệt, chuyển biến còn chậm… Với tinh thần trách nhiệm cao trước Đảng bộ và nhân dân, tôi đề nghị Đại hội tiếp tục thảo luận, làm rõ hơn, sâu sắc hơn những nguyên nhân, đặc biệt là những nguyên nhân chủ quan, tìm ra những giải pháp tích cực để khắc phục các mặt hạn chế, yếu kém này trong thời gian tới.

Trong những năm tới, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ta sẽ có nhiều thời cơ, thuận lợi lớn, nhưng cũng có những khó khăn, thách thức do những biến động nhanh, phức tạp, khó lường của thế giới và khu vực. Tình hình chung của đất nước và tình hình cụ thể của tỉnh nhà vừa làm tăng thêm niềm tin và sự phấn khởi, vừa đặt ra những yêu cầu, đòi hỏi phải có sự nỗ lực phấn đấu rất cao của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, trong đó có Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Lạng Sơn. Tôi cơ bản nhất trí với những mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp phát triển của tỉnh giai đoạn 2015-2020 như đã nêu trong Báo cáo chính trị trình Đại hội; đồng thời nhấn mạnh và lưu ý thêm mấy vấn đề sau:

Đồng chí Phùng Thanh Kiểm, Bí thư Tỉnh ủy bỏ phiếu bầu Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVI.

Một là, về thực hiện nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế: Lạng Sơn là tỉnh biên giới có vị trí quan trọng trong quan hệ hữu nghị hợp tác, toàn diện giữa hai nước Việt Nam – Trung Quốc, trực tiếp là trong quan hệ với tỉnh Quảng Tây. Lạng Sơn có nhiều lợi thế để phát triển, giàu tiềm năng về đất đai, tài nguyên, khoáng sản; có lợi thế phát triển nông, lâm nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, nông nghiệp công nghệ cao; phát triển thương mại, dịch vụ, du lịch, công nghiệp. Đồng thời có tiềm năng lớn về con người với nền văn hóa truyền thống phong phú, truyền thống cách mạng vẻ vang qua các thời kỳ.

Để phát huy tốt hơn các tiềm năng và lợi thế đó, Đảng bộ tỉnh cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo việc thường xuyên và chủ động kịp thời dự báo, nắm bắt tình hình, nhất là tình hình do tác động của việc tham gia các hiệp định thương mại mà Việt Nam đã và sẽ ký kết; trên cơ sở đó lưu ý việc rà soát, bổ sung, điều chỉnh hợp lý quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch xây dựng, ngành, lĩnh vực; đẩy mạnh tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng để tạo sự phát triển nhanh, bền vững hơn. Cần huy động tối đa các nguồn lực thuộc mọi thành phần kinh tế, khai thác có hiệu quả các tiềm năng và lợi thế để tạo ra những đột phá nhằm phát triển kinh tế toàn diện và vững chắc hơn; đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại và có hiệu quả cao, tạo bước chuyển biến cơ bản về cơ cấu ngành, cơ cấu vùng, cơ cấu thành phần kinh tế, trên cơ sở áp dụng mạnh mẽ tiến bộ khoa học, công nghệ, phát triển kinh tế thị trường, mở cửa, hội nhập.

Với vị trí thuận lợi, Lạng Sơn phải tạo được bước phát triển vượt bậc về kinh tế cửa khẩu, phát triển nhanh thương mại, dịch vụ, du lịch. Phải xác định đây là lĩnh vực mũi nhọn, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động. Đẩy nhanh xây dựng Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng – Lạng Sơn; tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng thiết yếu thúc đẩy thu hút đầu tư, phát triển các lĩnh vực có lợi thế để Lạng Sơn sớm trở thành một trung tâm thương mại, dịch vụ, du lịch của khu vực miền núi phía Bắc, giữ vai trò là một đầu mối trung chuyển thương mại quan trọng trong quan hệ hợp tác với Trung Quốc và giữa Trung Quốc với các nước trong khối ASEAN.

Là một tỉnh miền núi, tỷ lệ dân số ở khu vực nông thôn chiếm gần 80%, trong nhiều năm tới, kinh tế nông thôn, trong đó có nông - lâm nghiệp vẫn có vị trí đặc biệt quan trọng, góp phần vào tăng trưởng chung và đảm bảo ổn định chính trị - xã hội của tỉnh. Cần tạo được bước phát triển mới trong phát triển nông nghiệp và nông thôn; tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng thiết yếu, phát triển sản xuất hàng hóa có năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh cao gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ. Phát triển kinh tế trang trại, chăn nuôi tập trung theo hướng công nghiệp, an toàn dịch bệnh; khuyến khích và có chính sách hợp lý để thu hút các doanh nghiệp đầu tư kinh doanh vào khu vực nông nghiệp, nông thôn. Cùng với việc tiếp tục phát triển sản xuất lương thực, đẩy mạnh chăn nuôi, cần tập trung phát triển các vùng cây nguyên liệu, cây đặc sản, cây có giá trị kinh tế cao. Phát huy, khai thác tối đa nguồn lực, lợi thế đất đai, đồi rừng để phát triển lâm nghiệp, đưa lâm nghiệp trở thành ngành kinh tế trọng tâm; có cơ chế chính sách, cách làm hiệu quả để đồng bào ổn định đời sống và làm giàu từ nghề rừng. Thực hiện tốt việc phát triển nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới. Đẩy mạnh xã hội hóa, ưu tiên bố trí các nguồn lực và tập trung chỉ đạo để đạt mục tiêu về số xã đạt tiêu chí xây dựng nông thôn mới.

Trong điều kiện cụ thể của tỉnh, cần ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp có thế mạnh như: sản xuất vật liệu xây dựng, nhiệt điện, chế biến nông - lâm sản, cơ khí nhỏ, gia công, tái chế và sản xuất hàng xuất khẩu. Cùng với việc khuyến khích phát triển công nghiệp quy mô vừa và nhỏ, cần có cơ chế, chính sách phù hợp để thu hút những dự án lớn, công nghệ hiện đại, công nghệ sạch; xây dựng khu gia công sản xuất hàng hóa biên giới.

Tăng cường quản lý để bảo vệ, khai thác hợp lý, hiệu quả đất đai, tài nguyên, đảm bảo sự phát triển hài hòa giữa kinh tế và bảo vệ tài nguyên, môi trường, chú trọng làm tốt công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch và quản lý đô thị, tiếp tục đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là về giao thông, thủy lợi, điện, nước sinh hoạt, thông tin truyền thông, trường học, cơ sở y tế, hạ tầng đô thị, khu dân cư nông thôn, hạ tầng các khu kinh tế, khu công nghiệp, chợ biên giới.

Hai là, cùng với phát triển kinh tế, cần tiếp tục chăm lo phát triển các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, văn hóa – xã hội, y tế, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Tiếp tục đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, trong đó chú trọng chăm lo giáo dục ở vùng đặc biệt khó khăn, nhất là vùng cao, biên giới, khu vực nông thôn; duy trì vững chắc kết quả phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục trung học cơ sở, xây dựng hệ thống trường chuẩn quốc gia; củng cố các trường phổ thông dân tộc nội trú, khuyến khích phát triển mô hình trường phổ thông dân tộc bán trú, chú trọng đào tạo nghề để phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực cho lao động nông thôn có chất lượng cao và có cơ cấu hợp lý; đào tạo đội ngũ cán bộ cho hệ thống chính trị các cấp, nhất là cấp cơ sở, đáp ứng nhu cầu phát triển của tỉnh. Phát triển mạnh sự nghiệp y tế, quan tâm đầu tư, tăng cường năng lực của các cơ sở khám chữa bệnh, nâng cao chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân; quan tâm phòng, chống các bệnh dịch nguy hiểm; tăng cường bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm. Chú trọng xây dựng đời sống văn hóa lành mạnh, bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa gắn với phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Thực hiện tốt hơn công tác giảm nghèo bền vững, chăm lo đảm bảo an sinh xã hội, các chính sách đối với người có công với cách mạng, đồng bào ở vùng cao, biên giới, khu vực nông thôn.

Ba là, là một tỉnh biên giới, trong bối cảnh tình hình khu vực và thế giới diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch vẫn tìm mọi cách thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, Đảng bộ tỉnh phải thường xuyên coi trọng và thực hiện tốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Phải tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, công tác bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ bí mật nhà nước; xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc, xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng, an ninh, chăm lo xây dựng khu vực biên giới vững mạnh toàn diện. Chủ động phòng ngừa và đấu tranh trấn áp các loại tội phạm, đẩy lùi các tệ nạn xã hội, đảm bảo trật tự an toàn xã hội. Thực hiện tốt công tác dân tộc, tôn giáo; làm tốt công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, không để phát sinh điểm nóng về an ninh trật tự, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tạo môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo cuộc sống bình yên cho nhân dân. Là tỉnh có đường biên giới dài, có nhiều cửa khẩu với Trung Quốc, cấp ủy, chính quyền, mặt trận, đoàn thể các cấp, đồng bào các dân tộc trong tỉnh cần tiếp tục duy trì và phát triển các quan hệ truyền thống tốt đẹp với nhân dân Trung Quốc, đồng thời bảo vệ vững chắc chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia; xây dựng khu vực biên giới vững mạnh toàn diện, góp phần xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển.

Bốn là, tập trung xây dựng Đảng bộ, củng cố hệ thống chính trị ngày càng vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên, thực sự coi đó là nhiệm vụ then chốt, nhân tố có ý nghĩa quyết định thắng lợi sự nghiệp đổi mới. Cần tiếp tục giữ nghiêm kỷ luật và các nguyên tắc về xây dựng Đảng, đổi mới phương thức lãnh đạo, thường xuyên tự phê bình và phê bình; tăng cường xây dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức; xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh; “chống tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; phát triển đảng viên bảo đảm tiêu chuẩn, có chất lượng. Tăng cường công tác chính trị tư tưởng; đổi mới mạnh mẽ công tác tổ chức, cán bộ, chú trọng thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và bố trí sử dụng hợp lý đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là cán bộ chủ chốt, bảo đảm tính kế thừa, tránh tình trạng hụt hẫng. Chú trọng phát hiện và sử dụng người tài, cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số. Thường xuyên rèn luyện, giữ gìn phẩm chất và bản lĩnh đi đôi với phát huy sự chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, vai trò tiền phong gương mẫu của mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, xử lý kiên quyết nghiêm minh các vi phạm. Thực hiện có hiệu quả hơn nữa Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng gắn với Chỉ thị số 03 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh để tạo chuyển biến căn bản trong công tác xây dựng đảng, thúc đẩy thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị.

Tăng cường và nâng cao chất lượng, hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính. Nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân và các cơ quan tư pháp, nội chính; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức liêm chính, tận tụy, có trách nhiệm cao với công việc và với nhân dân. Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của công tác dân vận, của mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể theo hướng thiết thực, hiệu quả, nhất là trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đoàn kết, thống nhất trong toàn Đảng bộ và từng cơ quan, đơn vị.

Năm là, trên cơ sở quán triệt sâu sắc nội dung về tiêu chuẩn, cơ cấu cấp ủy, độ tuổi cấp ủy viên trong Chỉ thị số 36-CT/TW của Bộ Chính trị; căn cứ vào tiêu chuẩn và Quy chế bầu cử trong Đảng, từ thực tiễn của Đảng bộ, các đại biểu cần nêu cao trách nhiệm, phát huy dân chủ, sáng suốt lựa chọn bầu những đồng chí đủ tiêu chuẩn, thật sự xứng đáng vào Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, đảm bảo đủ số lượng, cơ cấu hợp lý, có sự kế thừa và phát triển, là trung tâm đoàn kết để lãnh đạo thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ tới. Sáng suốt lựa chọn để bầu Đoàn đại biểu đi dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII là những đồng chí đại diện, tiêu biểu cho trí tuệ và nguyện vọng của Đảng bộ tỉnh, đóng góp tích cực vào sự thành công Đại hội Đảng toàn quốc. Đồng thời, Đại hội tập trung trí tuệ, đóng góp ý kiến thiết thực vào dự thảo các văn kiện trình Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII để báo cáo Trung ương tiếp thu, hoàn thiện.

Sau Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, Ban Chấp hành khóa mới tập trung lãnh đạo các cấp ủy trong Đảng bộ tỉnh sớm ổn định tổ chức, ban hành quy chế làm việc, chương trình công tác toàn khóa và khẩn trương triển khai thực hiện. Chỉ đạo các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước, mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội thành các nghị quyết, chỉ thị, các đề án, dự án cụ thể và tổ chức thực hiện có kết quả ngay từ năm đầu và trong cả nhiệm kỳ.

Các đại biểu trao đổi bên lề hội nghị.   Ảnh: Khánh Ly

Phát huy truyền thống cách mạng vẻ vang của vùng địa đầu Tổ quốc và những thành tích, kết quả đã đạt được trong nhiệm kỳ qua, tranh thủ thời cơ, thuận lợi, vượt qua khó khăn thách thức, nắm vững phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và định hướng phát triển, Bộ Chính trị tin tưởng rằng, sau Đại hội này, Đảng bộ, quân và nhân dân các dân tộc tỉnh Lạng Sơn sẽ nỗ lực phấn đấu, với quyết tâm chính trị và tinh thần đại đoàn kết các dân tộc, phát huy sức mạnh tổng hợp, sớm đưa Nghị quyết Đại hội lần thứ XVI của Đảng bộ tỉnh đi vào cuộc sống, góp phần xây dựng quê hương, đất nước phát triển, ổn định và ngày càng giàu mạnh, cùng với các tỉnh miền núi và trung du phía Bắc và cả nước đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

 (Tiêu đề do Infonet đặt)

PV