Sáng nay 25/6, Quốc hội đã chính thức thông qua Nghị quyết về chủ trương đầu tư dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành với tỉ lệ 428/461 ĐBQH tán thành.

Dù còn nhiều tranh cãi, nhưng với 428/461 ĐBQH tham gia biểu quyết, chiếm tỷ lệ 86,64%; 17 ĐB không tán thành (chiếm 3,44%) và 16 ĐB không biểu quyết (chiếm 3,24%), Nghị quyết về chủ trương đầu tư dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành đã chính thức được Quốc hội thông qua.

Trước đó, thay mặt Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Nguyễn Văn Giàu đã báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến ĐBQH thảo luận tại Hội trường về chủ trương đầu tư dự án Cảng Hàng không quốc tế (HKQT) Long Thành.

Phối cảnh Cảng HKQT Long Thành

Theo đó, ngày 4/6/2015 trên cơ sở Báo cáo của Chính phủ và Báo cáo giải trình, tiếp thu của Ủy ban thường vụ Quốc hội, đã có 15 vị ĐBQH phát biểu thảo luận tại Hội trường về nội dung này và 3 vị ĐBQH gửi ý kiến tham gia bằng văn bản.

Tất cả các ý kiến đều tán thành với sự cần thiết đầu tư dự án Cảng HKQT Long Thành. Một số ý kiến cho rằng do tính cấp thiết của dự án, đề nghị đẩy nhanh tiến độ đầu tư để sớm đưa dự án vào khai thác.

Một số ĐBQH cho rằng việc quy hoạch, quản lý quy hoạch, chủ trương đầu tư phải có tầm nhìn lâu dài; tăng cường công tác giám sát của các cấp, các ngành, đặc biệt vai trò giám sát của Quốc hội, kết quả giám sát cần phải công khai để người dân biết. Dự án cũng phải bảo đảm suất đầu tư, chất lượng, công nghệ tương đương với các cảng hàng không hiện đại khác trong khu vực; đảm bảo nguồn nhân lực vận hành, năng lực cạnh tranh và yêu cầu phải đạt hiệu quả kinh tế - xã hội.

Tỷ lệ đại biểu Quốc hội biểu quyết thông qua chủ trương đầu tư xây dựng Cảng HKQT Long Thành

Trước ý kiến cho rằng chưa nên đặt ra vấn đề trung chuyển đối với Cảng HKQT Long Thành vì việc trung chuyển được hay không còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho rằng, việc đầu tư xây dựng Cảng HKQT Long Thành trước hết là để giải quyết vấn đề quá tải của Cảng HKQT Tân Sơn Nhất, đáp ứng nhu cầu vận chuyển hành khách và hàng hóa trong nước và quốc tế bằng đường hàng không. Sau khi hoàn thành giai đoạn 1 của dự án với mục đích giảm tải cho Cảng HKQT Tân Sơn Nhất, trên cơ sở yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, sẽ đầu tư giai đoạn 2, giai đoạn 3 với quy mô công suất phù hợp.

Trước ý kiến đề nghị cần làm rõ hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án, đánh giá tác động của việc thực hiện dự án đối với vấn đề nợ công, an ninh tài chính quốc gia, theo Ủy ban thường vụ Quốc hội, để đánh giá tính khả thi về mặt kinh tế của dự án trên quan điểm nền kinh tế quốc gia, tổ chức tư vấn đã thực hiện đánh giá kinh tế dựa trên các chi phí và lợi ích kinh tế của dự án.

Theo tính toán ở bước lập Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi và tính toán của Hội đồng thẩm định Nhà nước thì dự án đạt các chỉ số khả thi. Tuy nhiên, số liệu về hiệu quả kinh tế của dự án sẽ được xác định chính xác khi lập Báo cáo nghiên cứu khả thi.

Tiếp thu ý kiến của các ĐBQH, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã điều chỉnh lại dự thảo Nghị quyết. Cụ thể, Quốc hội đồng ý về chủ trương đầu tư Dự án Cảng HKQT Long Thành Quyết định chủ trương đâu  tư Dự án Cảng HKQT Long Thành, địa điểm tại huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

Mục tiêu của dự án là Xây dựng Cảng HKQT Long Thành đạt cấp 4F theo phân cấp của Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế (ICAO); giữ vai trò là Cảng HKQT quan trọng của quốc gia, với mục tiêu giai đoạn 1 khắc phục tình trạng quá tải của Cảng HKQT Tân Sơn Nhất, hướng tới trở thành một trong những trung tâm trung chuyển HKQT của khu vực.

Quy mô của dự án là đầu tư xây dựng các hạng mục của đự án để đạt công suất 100 triệu khách/năm, hàng hóa 5 triệu tấn/năm. 

Tổng mức đầu tư: khái toán cho toàn bộ Dự án là 336.763 tỷ đồng (tương đương 16,036 tỷ USD, áp dụng đơn giá của năm 2014), trong đó giai đoạn 1 là 114.569 tỷ đồng (tương đương 5,456 tỷ USD). Dự án được sử dụng một phần vốn ngân sách Nhà nước, vốn ODA, vốn doanh nghiệp, vốn cổ phần hóa, vốn đối tác công tư (PPP) và các loại vốn khác theo quy định của pháp luật.

Chính phủ chỉ đạo triển khai thu hồi đất một lần cho toàn bộ dự án (5.000 ha); có giải pháp để quản lý và sử dụng hiệu quả đất chưa sử dụng của dự án. Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội, tổ chức sản xuất, ổn định đời sống nhân dân vùng chịu ảnh hưởng.

 “Hàng năm Chính phủ báo cáo Quốc hội về tình hình thực hiện dự án”, ngoài ra, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội và các đại biểu Quốc hội trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình giám sát việc thực hiện Nghị quyết này”- dự thảo Nghị quyết nêu rõ.

Trường Giang