Người mắc bệnh vảy nến thường có tâm lý vái tứ phương mong muốn chữa khỏi bệnh bằng mọi giá. Lợi dụng tâm lý này, rất nhiều lang băm đã tuyên truyền có thể chữa khỏi bệnh vảy nến bằng phương thuốc bí truyền nhưng tiền mất tật mang

Ước tính Việt Nam có khoảng 1-5% dân số nước ta mắc bệnh vảy nến, tương đương có ít nhất 1-2 triệu người bệnh. Đây là bệnh lành tính, ít nguy hiểm tới tính mạng nhưng ảnh hưởng nặng nề tới tâm sinh lý,thẩm mỹ người bệnh.

Tin quảng cáo chữa khỏi bệnh vảy nến: Nhiều người suýt mất mạng

Người mắc bệnh vảy nến thường có tâm lý vái tứ phương mong muốn chữa khỏi bệnh bằng mọi giá. Lợi dụng tâm lý này, rất nhiều lang băm đã tuyên truyền có thể chữa khỏi bệnh vảy nến bằng phương thuốc bí truyền nhưng tiền mất tật mang, thậm chí bị biến chứng dẫn đến dị tật suốt đời như da đỏ, toàn thân nổi mụn, khớp dính; thậm chí một số trường hợp bị nhiễm độc thuốc dẫn suy thận…

Theo PGS.TS Nguyễn Văn Thường, Giám đốc BV Da liễu Trung ương, ước tính Việt Nam có khoảng 1-5% dân số nước ta mắc bệnh vảy nến, tương đương có ít nhất 1-2 triệu người bệnh. Đây là bệnh lành tính, ít nguy hiểm tới tính mạng nhưng ảnh hưởng nặng nề tới tâm sinh lý, thẩm mỹ người bệnh.

Bệnh vảy nến cần được phát hiện sớm và chữa trị đúng cách

Khi bị bệnh, trên da thường xuất hiện nốt đỏ càng ngày càng lan rộng ra khắp toàn thân, bong vảy; gây mất thẩm mỹ. Vì thế, người bệnh thường tự ti, ít giao tiếp với cộng đồng. Kể cả người thân, người làm việc cùng cơ quan khi thấy bệnh nhân có biểu hiện như thế thì lo sợ lây nhiễm, thậm chí kỳ thị và xa lánh. Trong khi đó đây là bệnh không lây.

Thực tế, tại Bệnh viện Da liễu Trung ương tiếp nhận nhiều trường hợp tự tìm thuốc điều trị dẫn đến biến chứng như: đỏ da toàn thân, da nổi mụn mủ, khớp dính lại… Một số bị nhiễm độc thuốc dẫn đến suy thận nếu không được điều trị kịp thời có thể dẫn đến tử vong. TS Thường cũng khẳng định, hiện bệnh chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, nhưng nếu được khám, phát hiện có biện pháp điều trị giúp bệnh thuyên giảm, ổn định, lâu dài có thể 1 năm, nhiều năm. Nếu tái phát lại điều trị. Tuy nhiên nhiều bệnh nhân không biết điều này.

Vảy nến là bệnh không lây

Nhằm ủng hộ bệnh nhân vẩy nến, nhân Ngày Vảy nến thế giới (29/10), Đại sứ quán Đan Mạch phổi hợp tổ chức sự kiện chạy bộ và gây quỹ tại Hà Nội vào sáng 25/10 với sự tham gia của hàng trăm người. Một thông điệp quan trọng được truyền đi trong sự kiện này, là “Vảy nến là bệnh không lây”, và tất cả mọi người nên giúp đỡ bệnh nhân vảy nến để tránh khỏi những sự phân biệt đối xử, bị kỳ thị ở ngoài xã hội cũng như trong môi trường công việc.

Bệnh vảy nến là bệnh da rất thông thường, liên quan đến yếu tố di truyền và rối loạn miễn dịch, gặp ở mọi lứa tuổi. Thế giới có khoảng 125 triệu người mắc. Bệnh tiến triển lâu dài, hay tái phát nhưng lành tính. Đến nay các nhà khoa học chưa tìm ra nguyên nhân chính xác gây bệnh, nên chưa thể dự phòng hoàn toàn.

Hàng trăm người đi bộ tại Hà Nội ngày 25/10 để ủng hộ Ngày Vảy nến thế giới

Bệnh vảy nến được coi là tự miễn, một số nghiên cứu cho là có yếu tố di truyền và chưa có một thuốc nào có thể chữa hoàn toàn khỏi bệnh. Nhưng nếu được phát hiện sớm, có các phương pháp chữa bệnh, quản lý bệnh bởi các bác sĩ chuyên khoa da liễu thì người bệnh được giải thích một cách khoa học, điều trị bệnh lý đúng cách, có thể giúp thuyên giảm bệnh một cách nhanh chóng, duy trì bệnh ổn định một thời gian dài.

Các biện pháp dự phòng yếu tố khởi phát cũng đóng một vai trò quan trọng trong điều trị vảy nến. Liệu pháp tâm lý, tránh stress là cần thiết. Bệnh nhân cần biết nên “chung sống hòa bình” với bệnh, tránh bi quan và có lối sống lành mạnh, sinh hoạt phù hợp, tránh các yếu tố bất lợi làm bệnh dễ tái phát để đạt được ổn định lâu dài.

TS Trần Hậu Khang, Chủ tịch Hội Da liễu Việt Nam khuyến cáo: “Bị bệnh, người bệnh không nên tự ti mà đến thầy thuốc tư vấn, điều trị đúng. Stress có thể khiến bệnh trở nên trầm trọng hơn. Đặc biệt không nghe theo những phương pháp chưa được thẩm định, không nghe những lời thuyết phục: ‘Tôi chữa khỏi bệnh vảy nến hoàn toàn, không tái phát’. Đấy là những lời chưa có cơ sở, chưa có khoa học”.


 

Theo Sức khỏe & Đời sống