Mùa bông Ô môi thắm nhất, đẹp nhất vào đầu hạ. Dọc theo những nẻo đường quê ở miền Tây không khó để bắt gặp cây Ô môi, với những chùm bông rực sắc hồng, đẹp đến ngỡ ngàng….
Cây Ô môi cao lớn, cành lá xum xuê, những cành non có lông màu rỉ sắt, cành già màu nâu đen. Lá kép lông chim với nhiều đôi lá phụ dạng thuôn dài tròn cả hai đầu, có phủ lông mịn, màu xanh bóng, gân rõ. Khi gió bấc về lành lạnh cũng là lúc cây Ô môi rụng hết lá và bắt đầu trổ bông.
Là loài hoa dân dã, không kiêu sa, đài các, nhưng bông Ô môi màu sắc lại dịu dàng, e ấp, đằm thắm như thôn nữ, nên ai ngắm nhìn cũng thấy say mê. Vào những ngày nắng đẹp, ong bướm vờn quanh, bông rơi vãi đầy các bến sông càng làm tăng thêm vẻ kiều diễm các vùng quê miền Tây.
Bông Ô môi tuy mộc mạc, chân quê, nhưng nó cũng có những cung bậc tình cảm riêng. Gặp con nước lớn, bông theo dòng nước lững lờ trôi, miên man không bờ bến. Xa xa đâu đó vọng lại bài ca vọng cổ của soạn giả Viễn Châu nghe buồn da diết: “….Ô môi rụng cánh ngoài sân. Mấy mùa hoa nở mấy năm đợi chờ….Ô môi rụng cánh tơi bời. Chuông tắt lâu rồi, tôi còn đứng mong ai!!…” , rất dễ chạnh lòng.
Trái Ô môi dài, đen nhánh, cứng cáp. Những buổi trưa trời hanh nắng, nhìn những trái Ô môi cong cong treo lủng lẳng trên cành, nghiêng nghiêng, đong đưa theo gió, khiến tôi nôn nao nhớ lại những kỷ niệm êm đềm của thời thơ ấu.
Về miền Tây những ngày đầu mùa hạ này, thỉnh thoảng bắt gặp vài nơi ở miệt vườn có hàng tạp hóa trên con đường quê trưng bày trong cái sề bán những trái Ô môi chín. Cảnh vật ấy làm tôi nhớ lại lúc còn nhỏ, khi tan học cùng đám bạn xúm xít bên nhau nô đùa dưới bóng cây, đứa hốt bông rơi tung lên trời làm xác pháo, đứa trèo lên cây bẻ trái mang xuống, róc ăn, miệng tươi cười hồn nhiên.
Trái vừa hái xong có mùi khăn khẳn, chan chát, ăn liền sẽ có vị gắt, nên theo kinh nghiệm mẹ dạy, bọn tôi chỉ đợi khi cho Ô môi ‘nhả” hết nắng mới hái ăn. Trái Ô môi có hai đường gân chạy dài từ đầu trái cho đến cuống trái, nên khi ăn bọn tôi luôn tìm cách ép hai đường gân đôi bên cho xệu xạo, rồi mới lấy múi Ô môi đen nhánh, tròn tròn như đồng tiền, hột dính liền phái trên những miếng thịt ấy, khi ăn vào có vị ngòn ngọt, cay nồng, bởi nó được kết tinh trong suốt một năm trời, nên hương vị thơm quyện đặc trưng khó lẫn vào đâu được.
Ăn xong, nhiều đứa trong đám nhóc chúng tôi không quên lấy hột xuống sông rửa, đem về cho mẹ nấu chè. Để có được một nồi chè hột Ô môi, mẹ tôi phải chuẩn bị khá công phu. Hột Ô môi tôi đem về mẹ lấy rửa sạch lần nữa, để ráo nước, rồi ngâm trong nước nóng. Để cả đêm cho hột mềm, hôm sau mẹ dùng mũi dao nhọn tạch bỏ vỏ hột và cả nhụy ở bên trong. Cơm hột Ô môi có màu trắng đục rửa qua nước lã cho sạch, để ráo, rồi mẹ lấy đậu xanh nguyên hột cho vào cối, xay bể đôi, rồi ngâm hồi lâu với nước lạnh cho tróc vỏ. Bắc nồi lên bếp, mẹ bỏ ít lá dứa vào nấu cho ra nước vừa lấy màu xanh, vừa tạo mùi thơm, Sau đó, vớt lá dứa ra, mẹ cho đậu xanh vào nấu, khi đậu xanh nhừ, mẹ trút cơm hột Ô môi đã chuẩn bị sẵn vào, dùng vá đảo đều, rồi cho mấy thẻ đường thốt nốt, nước cốt dừa xiêm vào sao cho vừa đủ độ ngọt béo.
Thời gian như nước qua cầu. Đã qua hơn bao mùa mùa Ô môi rồi tôi vẫn nhớ vẫn thương hoài loài cây gần gũi và thân quen ở bến sông. Đó là những ngày nắng ấm hay mưa rơi lất phất, gió vẫn rì rào làm cho bông rụng đầy. Thỉnh thoảng, từ trên không một vài cánh lìa cành, nhẹ nhàng buông xuống bám vào những mái tóc ngây thơ, bạn bè cứ tha hồ tung hứng từng cánh hoa, vui chơi thoải mái. Mỗi lần về quê vào mùa Ô môi nở bông, lòng tôi ngây ngây như được sống lại với bao kỷ niệm của một thời. Tôi tha thiết ngắm nhìn, chụp ảnh và nâng niu từng cánh hoa dân dã mang nặng hồn quê.

Theo TOÀN ĐỨC- KHÁNH KHANG/Báo An Giang Online