Formosa có đang làm ngược?

Mới đây, Báo Đất Việt có đăng bài “Cho Formosa xả thải vượt chuẩn: Làm ngược?”. Th.s Đào Nhật Đình (Cán bộ Kỹ thuật môi trường) có bài viết thể hiện quan điểm về vấn đề này. Báo điện tử Infonet xin đăng tải nguyên bài viết của tác giả.

Ngày 30/11/2017 Báo điện tử Đất Việt có đăng bài “Cho Formosa xả thải vượt chuẩn: Làm ngược?” của tác giả Hoàng Hải phỏng vấn TS. Nguyễn Thành Sơn - Nguyên Giám đốc Ban quản lý các dự án than đồng bằng sông Hồng thuộc Tập đoàn Công nghiệp than - khoáng sản Việt Nam (Vinacomin) nói về vấn đề xả thải của doanh nghiệp Formosa Hà Tĩnh.

Dưới một góc nhìn khác, Th.s Đào Nhật Đình (Cán bộ Kỹ thuật môi trường) có bài phản biện về bài viết trên. Để rộng đường dư luận, Infonet xin giới thiệu bài viết của Ths Đào Nhật Đình:

Về vấn đề nới lỏng hay thắt chặt

Trước tiên xin được nói rằng bài của báo Đất Việt sử dụng ảnh không phải của doanh nghiệp Thép Formosa Hà Tĩnh (FHS) nhưng lại đề chú thích Formosa Hà Tĩnh là sai về nghiệp vụ báo chí.

Nhìn chung TS. Nguyễn Thành Sơn đã không hiểu QCVN 51 cũ và đề xuất mới nên cho là “nới lỏng”. Dưới đây là bảng so sánh một số chỉ tiêu cũ và mới. QCVN 51 mới tiến bộ hơn QCVN 51 cũ ở chỗ đã phân thành 3 công đoạn luyện gang thép khác nhau: Công đoạn thiêu kết và sản xuất gang; công đoạn sản xuất cốc; cơ sở luyện cán thép, hoàn nguyên sắt, lò vôi, thu hồi kẽm từ bụi lò luyện thép.

Trong khi QCVN cũ chỉ phân 2 loại : luyện thép và luyện cốc. Tuy nhiên, việc phân làm 3 công đoạn vẫn chưa đúng, nhưng việc đó sẽ thảo luận sau.

Dưới đây là bảng so sánh giá trị ngưỡng đề xuất mới và cũ trong QCVN 51. Ta thấy phần lớn các con số ở cột giá trị cũ cao hơn giá trị mới. Một số thông số trước đó không quy định thì nay đã có quy định chi tiết hơn. Đó chính là sự thắt chặt của QCVN 51 mới so với cũ.

Giá trị C làm cơ sở để tính nồng độ tối đa cho phép của các thông số trong khí thải công đoạn sản xuất cốc

Khái niệm hàm lượng ô xy tham chiếu

TS. Thành Sơn phát biểu chưa đúng về hàm lượng ô xy tham chiếu. Chúng tôi xin giải thích đôi chút về hàm lượng ô xy tham chiếu.

Muốn so sánh được khí thải với chuẩn QCVN thì trước tiên phải đưa về chuẩn. Ví dụ khí đo được ở 85oC, áp suất 750mm thủy ngân, độ ẩm xx phải đưa về 25oC, 760mm thủy ngân, độ ẩm 0 thì mới có thể so sánh được. Gần đây trên thế giới thêm vào hàm lượng ô xy tham chiếu cũng là để quy về một chuẩn so sánh.

Áp dụng ô xy tham chiếu không phải là để cho cháy tốt hơn hay kém hơn. Nó là một chỉ số được rút ra từ thực tế đo hàm lượng ô xy dư trong khí thải của một công đoạn sản xuất nhất định với công nghệ hiện có tốt nhất (BAT). Đó không phải là con số có thể tính toán lý thuyết mà chỉ có thể đo được và rút ra từ thực tế. Chỉ số đó được áp dụng trong việc đưa số đo (vd. NOx) về với một chuẩn ô xy để tiện cho việc so sánh với chuẩn.

Ví dụ nếu lò điện đốt than quy định ô xy tham chiếu là 6% thì có nghĩa là số đo ô xy đã được rút ra từ đo lường thực tế suốt 10 năm qua. Không thể tự dưng ngồi nghĩ ra là phải ép lò điện áp theo ô xy tham chiếu 3% vì con số đó quá xa thực tế.

Công thức tính toán quy đổi:

Hàm lượng khí đã điều chỉnh theo oxy = hàm lượng đo được x (21- hàm lượng ô xy tham chiếu)/(21-hàm lượng ô xy đo được)
Công thức này lấy theo công thức tương tự của nước ngoài:

Khi khí thải đầu ra có ô xy dư bằng tham chiếu thì tỉ số =1 (đa số trường hợp). Hàm lượng khí thải quy đổi = hàm lượng đo thực tế.

Khi khi thải đầu ra có ô xy cao hơn tham chiếu có nghĩa là tử số lớn hơn mẫu số. Hàm lượng khí thải quy đổi > hàm lượng đo thực tế. Đây là hình thức phạt cho việc cháy không hết nhiên liệu hay lò hở làm lọt không khí vào.

Ngược lại, khi khí thải có ô xy thấp hơn tham chiếu thì hàm lượng quy đổi thấp hơn thực tế.

Trong cả ba trường hợp trên, lượng khí thải phát ra thực tế không hề thay đổi, nó chỉ được quy về một chuẩn để tiện so sánh. Việc áp dụng hàm lượng ô xy tham chiếu cao hay thấp không ảnh hưởng gì đến việc phát sinh các chất khí độc hại cả. Nó chỉ ảnh hưởng đến hàm lượng khí thải quy đổi để so sánh với chuẩn như QCVN 51 mà thôi.

Như vậy việc QCVN cho áp dụng hàm lượng ô xy tham chiếu 15% đối với khâu thiêu kết là hoàn toàn hợp lý, trong khi các tiêu chuẩn khí đầu ra đã được thắt chặt hơn.

Hàm lượng ô xy tham chiếu cho khâu thiêu kết

Thiêu kết là quá trình kết dính vật liệu để tạo thành một khối rắn bằng nhiệt hoặc áp suất mà không nung chảy nó đến điểm hóa lỏng. Như hình vẽ ở dưới đây, hỗn hợp quặng đi qua 4 vùng:

Vùng hỗn hợp liệu ướt: không khí đi qua lớp này không tham gia phản ứng, trực tiếp chuyển thành khí thải với nguyên hàm lượng ô xy ban đầu.

Vùng sấy liệu: không khí nóng có tác dụng gia nhiệt cho lớp liệu này trước khi đi vào vùng quặng mềm và thiêu kết, trực tiếp chuyển thành khí thải với nguyên hàm lượng ô xy ban đầu.

Vùng quặng mềm: không khí nóng đi qua chỉ có tác dụng làm mềm quặng, trực tiếp chuyển thành khí thải với hàm lượng ô xy ban đầu.

Vùng thiêu đốt: chỉ vùng này không khí tham gia vào quá trình đốt; Oxy được tiêu thụ tại vùng này.

Vùng làm nguội vật liệu thiêu kết: không khí đi qua chỉ có tác dụng làm mát quặng, không tham gia phản ứng; trực tiếp chuyển thành khí thải với hàm lượng ô xy ban đầu.

Như vậy, quá trình thiêu kết chỉ sử dụng khoảng 3-4% cốc vụn và than gầy làm chất hoàn nguyên trong tỉ lệ phối liệu với hỗn hợp quặng sắt, quặng hồi liệu lò cao, đá vôi, đá xà văn khi đưa vào công đoạn thiêu kết. Chỉ có một phần không khí tham gia vào quá trình cháy và tiêu tốn ô xy. Phần không khí còn lại với ô xy không tham gia đốt cháy nhiên liệu nên vẫn còn trong khí thải.

Do đó khí thải đầu ra có hàm lượng ô xy thực cao hơn rất nhiều so với khí thải của các quy trình đốt nhiên liệu thuần túy như lò hơi. Thực tế đo được ở khâu thiêu kết cho thấy hàm lượng ô xy đầu ra vào khoảng 14,7% và Tài liệu tham chiếu cho Công nghệ sẵn có tốt nhất (BAT) trong ngành gang thép của EU cũng sử dụng hàm lượng ô xy tham chiếu 15% để tính toán so sánh phát thải NOx (trang 158) cho công đoạn thiêu kết.

Chất thải lỏng quá trình luyện cốc

Việc bài báo hoặc TS. Sơn nhận định “Những chất thải lỏng được hình thành từ quá trình luyện than thành cốc được xét nguy hại ngang hàng với chất thải của phóng xạ.” là hoàn toàn sai về bản chất.

Khâu luyện cốc sản sinh hai loại chất lỏng:
Một là Dầu cốc. Đây là nguyên liệu quý trong ngành hóa chất, gồm nhiều chất các bon mạch vòng, được FHS thu hồi hoàn toàn và xuất khẩu ra nước ngoài.

Hai là Nước dập cốc. Nước thải từ khâu dập cốc được đưa qua hệ thống xử lý nước thải.

Nước thải đầu ra sau khi xử lý được dẫn ra hồ sinh thái xử lý bổ sung, có cả nuôi cá theo yêu cầu của Bộ trưởng TNMT. Trước khi xả ra môi trường, nước thải đầu ra qua hệ thống quan trắc hiện đại nhất Việt Nam gồm ba lớp: phòng thí nghiệm của FHS, máy quan trắc tự động các chỉ tiêu độc hại, và cuối cùng là hai phòng thí nghiệm di động của Bộ TNMT đóng trong FHS lấy mẫu hàng ngày. Tất cả các mẫu đều cho kết quả an toàn.

Việc TS. Sơn hoặc nhà báo so sánh nước thải với chất thải của phóng xạ là hoàn toàn vô lý. Phóng xạ là chất không thể xử lý được, chỉ có chờ nó tự phân hủy. Còn chất thải trong nước thải dập cốc là những chất có thể phân hủy bằng vi sinh trong điều kiện xử lý nước thải, thành những chất vô hại và lọc ra khỏi nước trước khi thải ra môi trường.

Vấn đề nước thải của FHS đã được nói đến nhiều lần và được Bộ TNMT hết sức quan tâm nên phát biểu như TS. Sơn thể hiện sự thiếu hiểu biết về công nghệ và thực tế xử lý.

Th.s Đào Nhật Đình

Xin được trích nguyên bài viết của Báo điện tử Đất Việt.

Cho Formosa xả thải vượt chuẩn: Làm ngược?

(Tin tức thời sự) - ''Đúng ra vấn đề khí thải của Formosa phải được siết chặt thêm thì đằng này lại nới lỏng ra. Không ai người ta làm ngược như vậy cả''

Vì sao phải nới chuẩn?

Việc Bộ Tài nguyên Môi trường (TN-MT) cho phép Formosa Hà Tĩnh áp dụng hàm lượng oxy tham chiếu tại lò thiêu kết vượt chuẩn từ 7% lên 15% khiến một số chất độc hại trong khí thải của Formosa (FHS) vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải sản xuất thép.

Trao đổi với Đất Việt chiều 28/11, TS. Nguyễn Thành Sơn, nguyên Giám đốc Ban quản lý các dự án than đồng bằng sông Hồng thuộc Tập đoàn Công nghiệp than - khoáng sản Việt Nam (Vinacomin) cho rằng đây là điều lạ.

''Đúng ra vấn đề khí thải của Formosa phải được siết chặt thêm thì đằng này lại nới lỏng ra. Không ai người ta làm ngược như vậy cả, tại sao thế?", ông Sơn đặt câu hỏi.

Formosa Hà Tĩnh

Về nguyên tắc, hàm lượng oxy tham chiếu càng thấp thì mức độ ô nhiễm càng nhỏ, và ngược lại. Trong trường hợp của Formosa tăng hàm lượng oxy tham chiếu lên 15% đồng nghĩa với việc lượng khí tải sẽ nhiều hơn.

Các chất gây ô nhiễm tại các lò luyện cốc sẽ được cộng với 7% oxy (quy chuẩn cũ) hoặc 15%  oxy (quy chuẩn mới) trước khi thải ra ngoài môi trường. Nói một cách đơn giản là dùng oxy pha loãng nồng độ các chất gây ô nhiễm để đạt các tiêu chí khác về bảo vệ môi trường.

Vấn đề sống còn

Nhìn nhận một cách thấu đáo hơn về vấn đề môi trường tại Formosa, TS. Nguyễn Thành Sơn nhấn mạnh, Bộ TN-MT phải lưu ý đến công nghệ xử lý chất thải lỏng được hình thành từ quá trình luyện than thành cốc.

Bởi theo ông, đây mới là loại chất thải nguy hiểm nhất trong các loại chất thải tại Formosa, thế nhưng chưa thấy Formosa hay cơ quan chức năng đề cập tới việc xử lý loại chất thải này.

"Khi tiến hành luyện cốc, bao giờ cũng thải ra chất thải rắn, chất thải lỏng và chất thải khí. Chất thải khí thì bay lên trên, có thể lọc được. Chất thải rắn là phần cặn còn lại của lò đưa ra ngoài, có thể giao cho các công ty môi trường của Việt Nam mang đi xử lý, chôn cất được. Nếu được thì bắt Formosa chôn cất ngay trong nhà máy.

Còn chất thải lỏng của lò luyện cốc hiện nay chưa có giải pháp nào xử lý cả và trên thế giới họ đều hết sức coi trọng điều này. Những chất thải lỏng được hình thành từ quá trình luyện than thành cốc được xét nguy hại ngang hàng với chất thải của phóng xạ.

Cho nên ở những nhà máy luyện cốc người ta phải xử lý chất thải 1 cách vô cùng nghiêm ngặt từ khâu thống kê, kiểm soát, vận chuyển. Nếu họ tìm cách trà trộn vào các chất thải rắn khác rồi đưa ra ngoài thì cực kỳ nguy hiểm", TS. Sơn nhấn mạnh.

Bên cạnh đó, ông Sơn cảnh báo, trong năm 2016 Formosa đã nhập hơn 500 ngàn tấn than bitum về luyện cốc thay vì nhập than mỡ. Giá than mỡ hiện tại là 200 đô/tấn, trong khi loại than bitum chỉ khoảng 75 đô/tấn.

Than bitum là loại than kém chất lượng, ở nước ngoài họ không dùng được thì Việt Nam nhập về luyện cốc. Chất thải trong quá trình luyện cốc từ loại than kém chất lượng này cực kỳ nhiều.

Do đó, vị chuyên gia lưu ý, việc cần làm ngay lúc này là trong từng khâu (lò cốc, lò cao, lò hơi) phải yêu cầu Formosa có hệ thống xử lý hết tất 3 loại chất thải rắn, lỏng khí.

Lãnh đạo các Bộ, ngành nhiều lần khẳng định, sẽ kiên quyết với Formosa, thậm chí, sẽ khởi tố nếu tiếp tục sai phạm. Vì vậy nên thực hiện lời hứa trước nhân dân. Nếu Formosa không đáp ứng được yêu cầu xử lý chất thải, đặc biệt là chất thải lỏng được hình thành từ quá trình luyện than thành cốc thì cần chấm dứt ngay hợp đồng.

  • Hoàng Hải

 

cùng chuyên mục
Kéo xuống để xem tiếp nội dung
Xem thêm trên infonet