Hàn Quốc cam kết cắt giảm thuế cho 502 mặt hàng của Việt Nam, chủ yếu là các mặt hàng nông lâm thủy sản như tôm, cá, hoa quả, gừng, tỏi, ớt, mật ong, dệt may, đồ gỗ…

Hiệp định thương mại tự do Việt Nam- Hàn quốc (VKFTA) vừa được ký kết vào ngày 5/5 là một Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới với phạm vi rộng, mức độ tự do cam kết cao và cân bằng lợi ích của cả hai bên.  Hiệp định dự kiến sẽ mang lại lợi ích tích cực nhiều mặt đối với Việt Nam. Đồng thời nó cũng đặt ra cho các cơ quan quản lý nhà nước và các doanh nghiệp không ít thách thức.

Dệt may Việt Nam sẽ có nhiều lợi ích đáng kể sau khi Hiệp định VKFTA

Cụ thể Hàn Quốc cam kết tự do hóa 97,2% giá trị nhập khẩu, chiếm 95,4% số dòng thuế. Cam kết cắt giảm thuế cho 502 mặt hàng của Việt Nam, kim ngạch nhập khẩu từ Việt Nam là 324 triệu USD. Đặc biệt có nhiều nhóm hàng nông, thủy sản xuất khẩu chủ lực như tôm, cua, cá, hoa quả nhiệt đới rau quả, nông sản, tỏi gừng, mật ong và hàng công nghiệp như dệt may, đồ gỗ, sản phẩm cơ khí…

Khi nhắc đến tỏi, gừng, nhiều người ngạc nhiên vì mặt hàng này có giá trị nhỏ. Tuy nhiên Việt Nam là đối tác FTA đầu tiên được Hàn Quốc mở cửa thị trường đối với sản phẩm này (Thuế suất của như tỏi, gừng, mật ong, khoai lang… rất cao từ 241- 420% do đặc biệt nhạy cảm với Hàn Quốc).

Ví dụ với mặt hàng tôm, Hàn Quốc miễn thuế cho Việt Nam với lượng hạn ngạch 10 nghìn tấn/năm và tăng dần trong 5 năm đến mức 15 nghìn tấn/năm miễn thuế. Trong khi hiện nay Việt Nam chỉ tận dụng được 2.500 tấn/năm miễn thuế trong tổng số 5.000 tấn/năm dành cho 10 nước ASEAN.

Nhờ vậy tạo cơ hội cạnh tranh đáng kể cho hàng xuất khẩu của Việt Nam so với các đối thủ cạnh tranh khác trong khu vực như Trung Quốc, Indonesia, Malaysia và Thái Lan.

Việt Nam là đối tác đầu tiên được Hàn Quốc mở cửa với mặt hàng gừng, tỏi...vì đây là những mặt hàng rất nhạy cảm.

Ngược lại, Việt Nam phải cắt giảm thuế quan với 92,7% giá trị nhập khẩu, chiếm 89% số dòng thuế. Cam kết với 200 mặt hàng, có kinh ngạch nhập khẩu từ Hàn Quốc là 737 triệu USD. 

Đó là các nhóm hàng công nghiệp như nguyên phụ liệu dệt may, da giày, nguyên liệu nhựa, linh kiện điện tử, máy móc thiết bị, dây điện, cáp điện, xe ô tô tải và xe con từ 3.000 cc trở lên, phụ tùng ô tô, dược phẩm, mỹ phẩm…Mở cửa cho Hàn Quốc  dịch vụ quy hoạch đô thị và kiến trúc cảnh quan đô thị; Dịch vụ cho thuê máy móc và thiết bị khác không kèm người điều khiển

Đánh giá tác động của hiệp định VKFTA, ông Phạm Khắc Tuyên- Trưởng phòng Đông Bắc Á Vụ Thị trường Châu Á- Thái Bình Dương, Bộ Công thương cho biết: “Nhiều ý kiến cho rằng khi tham gia thì Việt Nam sẽ không được lợi gì hoặc được lợi ít. Việc hội nhập là xu hướng tất yếu, các hiệp định thương mại tự do ngày càng trở nên phổ biến. 

Nếu nhìn qua có thể thấy Hàn Quốc sẽ tận dụng được ưu đãi với các mặt hàng công nghiệp, có giá trị hơn nhưng thực tế, khi tham gia bất cứ chương trình hợp tác, đàm phán nào chúng ta đều phải đánh giá trên cơ sở lợi ích, hạn chế, đàm phán để mang lại lợi ích cho cả hai bên, không chỉ là kinh tế, đầu tư. Tuy nhiên vấn đề là chúng ta tận dụng cơ hội như thế nào. 

Đương nhiên có thể Hàn Quốc phát triển hơn, trình độ cao hơn nên họ sẽ tận dụng lợi ích cao hơn. Điều đó cũng đặt ra cơ hội, thách thức cho doanh nghiệp trong nước, phải chủ động hơn để nắm bắt cơ hội”.

Theo ông Tuyên, về xuất khẩu, Việt Nam sẽ được dỡ bỏ thuế quan khi vào thị trường này, còn đối với nhập khẩu sẽ có cơ hội nhập khẩu hàng hóa rẻ hơn, đặc biệt là các nhóm hàng phục vụ sản xuất, giúp môi trường đầu tư của Việt Nam minh bạch và thông thoáng hơn, thu hút hơn nữa đầu tư từ Hàn Quốc. 

Tuy nhiên nó cũng đặt ra nhiều thách thức: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt vẫn  ở mức thấp, các ngành công nghiệp phụ trợ chưa phát triển; Tạo thêm sức ép cạnh tranh đối với doanh nghiệp trong nước đặc biệt là những doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Từ góc nhìn của doanh nghiệp Hàn Quốc, ông Hongsun- Tổng Thư ký Phòng Thương mại Hàn Quốc tại Việt nam đưa ra lời khuyên: VKFTA là cơ hội cho cả hai bên nhưng cần sự chuẩn bị chu đáo. Đặc biệt là cơ hội cho mặt hàng nông lâm thủy sản Việt Nam nhưng quá trình sản xuất, kiểm dịch của Việt Nam phải đảm bảo vì kiểm soát của Hàn Quốc rất chặt chẽ. Nếu người nông dân không tuân theo thì sản lượng nhiều cũng không thể xuất được hoặc có thể bị trả hàng về. Nông dân Việt cũng nên quan tâm đến cách làm ăn với Hàn Quốc.

Còn các doanh nghiệp Việt Nam nên hợp tác với doanh nghiệp Hàn Quốc giàu kinh nghiệm để tránh rủi ro, dễ tiếp cận với thị trường hơn. Bên cạnh đó các doanh nghiệp cần chủ động hơn trong việc nắm bắt thông tin, bởi nếu có cơ hội mà không biết nắm bắt thì không thể thành công được.

Diệu Thùy