Giải mật bí mật nhà nước thuộc cấp độ Tuyệt mật sau 30 năm

Nguyễn Tuân

Bí mật nhà nước được phân thành 03 cấp độ: Tuyệt mật, Tối mật và Mật.

Thực hiện chủ trương của Đảng về công khai, minh bạch hóa thông tin; tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về bảo vệ bí mật nhà nước, tạo điều kiện để công dân thực hiện các quyền cơ bản theo quy định của Hiến pháp năm 2013, dự thảo Luật Bảo vệ bí mật nhà nước (được Chính phủ trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XIV) quy định cụ thể thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước như sau:

Thời hạn 30 năm đối với bí mật nhà nước thuộc cấp độ Tuyệt mật; 20 năm đối với bí mật nhà nước thuộc cấp độ Tối mật; 10 năm đối với bí mật nhà nước thuộc cấp độ  Mật. Thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước được gia hạn nếu việc giải mật gây nguy hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc.

Tại phiên thảo luận ở Tổ về dự án Luật Bảo vệ bí mật nhà nước, Đại biểu Quốc hội Vương Văn Sáng (đoàn Lào Cai) cho rằng quy định về thời hạn như trên có cứng nhắc quá không khi một số bí mật được giải mật sớm hơn so với thời gian quy định. Đại biểu Sáng cho rằng nên quy định theo từng mức độ, thời điểm, xét theo mức độ Mật cần được bảo vệ để có thể gia hạn tiếp.

Tại Điều 23 quy định về tiêu hủy bí mật nhà nước có nêu rõ nếu không tiêu hủy ngay sẽ gây hại cho lợi ích quốc gia dân tộc. Đại biểu Sáng cho rằng cần quy định loại bí mật nhà nước nào phải tiêu hủy và loại bí mật nhà nước nào không tiêu hủy sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng.

“Thực tế bí mật nhà nước cũng có những văn bản đã triển khai tới các cơ quan, tổ chức, cá nhân khi không còn là bí mật nữa thì có cần phải tiêu hủy không?”, Đại biểu Vương Văn Sáng nói.

Đại biểu Vương Văn Sáng, đoàn ĐBQH tỉnh Lào Cai.

Điều 10 của dự thảo Luật quy định người có trách nhiệm lập danh mục bí mật nhà nước gồm: Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước, Chánh án TAND Tối cao, Viện trưởng Viện KSND Tối cao, Tổng Kiểm toán Nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Văn phòng Trung ương Đảng, người đứng đầu các tổ chức chính trị, xã hội.

“Câu mà tôi quan tâm là “người đứng đầu các tổ chức chính trị xã hội”, cần quy định cụ thể tổ chức xã hội ở cấp nào”, Đại biểu Sáng băn khoăn.

Về Điều 15 dự thảo Luật quy định việc vận chuyển, trao nhận bí mật nhà nước, có 3 khoản quy định về vấn đề vận chuyển: vận chuyển, giao nhận bí mật nhà nước thông qua giao liên phải thực hiện theo nguyên tắc giữ kín niêm phong; vận chuyển bí mật nhà nước phải có phương tiện vận chuyển, trong trường hợp cần thiết phải có lực lượng bảo vệ đảm bảo trong quá trình vận chuyển; nơi gửi và nơi nhận bí mật nhà nước phải kiểm tra, đối chiếu sai sót để xử lý, việc giao nhận phải ghi đầy đủ theo số liệu theo dõi riêng, và phải ký nhận.

Tuy nhiên, Đại biểu Sáng cho rằng cần quy định loại bí mật nhà nước nào thực hiện các quy định vận chuyển giao nhận bí mật nhà nước cụ thể, bởi bí mật nhà nước được hình thành và lưu giữ dưới nhiều dạng khác nhau như: tài liệu, địa điểm, lời nói, hoạt động, và các dạng khác,…

Một Đại biểu khác thuộc đoàn Lào Cai là Đại biểu Sần Sín Sỉnh đề nghị bổ sung nội dung quản lý nhà nước về hoạt động bí mật nhà nước. Đại biểu Sỉnh cũng cho rằng việc quy định về mẫu dấu cấp độ mật và các loại mẫu giấy tờ về bí mật nhà nước, như trong dự thảo giao Bộ Công an, điều này là không phù hợp trong một số trường hợp.

Đại biểu Sần Sín Sỉnh, đoàn ĐBQH tỉnh Lào Cai.

“Bộ Công an ra một mẫu văn bản khác có nội dung Mật, và theo luật này thì sẽ phải ban hành một văn bản mẫu. Ngay hiện tại đang áp dụng quy định sổ ghi văn bản Mật cũng phức tạp. Ví dụ có sổ ghi công văn đi/đến là công khai, trong khi văn bản đóng dấu Mật thì phải lưu giữ bí mật. Nếu ban hành thêm mẫu văn bản về nội dung Mật đó nữa sẽ càng phức tạp hơn”, ông Sần Sín Sỉnh nói.

Một trong những điểm mới của dự thảo Luật là việc xác định lại khái niệm bí mật nhà nước theo hướng khái quát, nhưng đảm bảo chặt chẽ, đáp ứng tính ổn định của luật. Cụ thể, bí mật nhà nước là thông tin có nội dung quan trọng thuộc lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, kinh tế, khoa học, công nghệ và các lĩnh vực khác chưa công khai, nếu bị lộ, mất có thể gây nguy hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc (Điều 2). Đây là cơ sở phân biệt giữa bí mật nhà nước với các loại bí mật khác, như bí mật công tác, bí mật đời tư…

cùng chuyên mục
Kéo xuống để xem tiếp nội dung
Xem thêm trên infonet