Giáo sư Phạm Gia Khải – Nguyên Viện trưởng viện Tim mạch Việt Nam, Chủ tịch hội tim mạch can thiệp Việt Nam luôn biết ơn cô sinh viên đã xả thân để che đạn cho mình vào năm 1972, khi Bệnh viện Bạch Mai bị bỏ bom.

Giáo sư Phạm Gia Khải

Trong căn phòng của mình tại Viện Tim mạch Việt Nam, Giáo sư Phạm Gia Khải dù đã ở tuổi 80, mới được nong mạch vành cách đó vài hôm nhưng vẫn miệt mài làm việc. Công cuộc học hỏi trong nghề y với ông có lẽ cả đời cũng chưa đủ nên lúc nào ông cũng cố gắng trau dồi thêm kiến thức cho mình.

Người thầy đặt nền móng đầu tiên cho ngành tim mạch Việt Nam thở dài khi phóng viên hỏi về... bệnh tim mạch của mình. Hai lần nong mạch, cách đây 10 năm ông đã đặt stent. Ông bảo “tôi là bác sĩ nhưng cũng là người mà, tuổi già ai tránh được bệnh tật. Chỉ có điều mình cảm nhận được sức khoẻ và giữ gìn sức khoẻ của mình là trách nhiệm”.

Cả đời gắn bó với khuôn viên Bệnh viện Bạch Mai, cảm nhận từng sự thay đổi của nơi đây, ông luôn cảm thấy ấm áp. Lật từng trang ký ức của mình về gần 60 năm gắn bó với y khoa, Giáo sư Khải bồi hồi kể lại câu chuyện cách đây hơn gần 50 năm. 

Đó là vào thời khắc Đế quốc Mỹ ném bom phá hoại miền Bắc. Ngày đó, Bệnh viện Bạch Mai Hà Nội cũng bị giặc bắn phá, hứng trọn cả 100 quả B52. Nhưng tinh thần của các bác sĩ lúc đó thì vô cùng hùng tráng.

Ngày định mệnh ấy, giáo sư cùng các đồng nghiệp của mình đang làm việc. Ông nhìn lên bầu trời thấy phi công Mỹ đã nhảy dù. Cảm nhận có điều không lành sẽ xảy ra nên ông bảo các đồng nghiệp và học trò của mình chạy xuống hầm trú ẩn. 

Trong giây phút giặc Mỹ thả bom vào ngay viện Tim mạch, ông kịp xuống hầm nhưng hầm nơi ông trú ẩn cũng lĩnh trọn quả bom. Trong giây phút đó, ông chỉ nghe thấy tiếng nữ sinh viên bảo “Thầy yên tâm, đã có em, thầy không phải lo”. Thân hình nhỏ bé của cô nữ sinh viên ấy đã che chắn cho người thầy giáo cũ của mình. 

Một lúc bị choáng, giáo sư Khải bảo “tôi chỉ kịp bừng tỉnh khi thấy quanh mình là tóc, là máu của ai đó. Tôi sờ lên đầu mình không có máu, nữ sinh đã lấy thân mình che cho tôi bị thương nặng. Hoá ra là anh bạn đồng nghiệp đứng ngay sau tôi đã lĩnh mảnh đạn bay xiên ngang đầu. Tôi thật tốt phước nên được nữ sinh che chắn đạn”. 

Giáo sư Khải cười: “Lúc ấy tôi thấy mình là đàn ông, là thầy giáo lại để nữ sinh bảo vệ. Cảm giác của phái mạnh có đến nhưng rồi nhanh chóng lạc đi bởi lúc ấy mới thầm thía tình thầy trò".

Vị giáo sư luôn kể lại cho gia đình, bạn bè đồng nghiệp của mình về những kỷ niệm đáng nhớ ấy. Trong giây phút sinh tử, sinh viên của ông đã cố gắng che chở cho ông.

GS Khải bồi hồi nhớ lại những ngày tháng chiến tranh. Với ông, cuộc kháng chiến chống Mỹ là cuộc thử lửa, là môi trường để ông có thể trưởng thành. Chính vì vậy mà bắt đầu từ năm 1969, ông đã tình nguyện xung phong vào Bắc Trị Thiên, tham gia với tư cách của một người bác sĩ đi bên cạnh những chiến sĩ.

Kỷ niệm tại bệnh viện dã chiến miền Bắc hồi đó khiến ông không thể nào quên khi các học trò ai cũng gọi “thầy ơi, thầy ơi, viết cho em cách chống và điều trị bệnh sốt rét”. Có lẽ với những bộ đội lúc ấy sốt rét trở thành nỗi kinh hoàng của họ. Họ sợ ốm, sợ không có sức chiến đấu bảo vệ tổ quốc.

Với giáo sư Khải, học trò, người bệnh chính là động lực để ông phát triển. Nhưng ông luôn nói với mỗi học trò của mình rằng “tôi đi con đường của riêng tôi”. Mỗi người có một con đường riêng và họ nên đi con đường riêng của họ. Con đường mà giáo sư có thể bây giờ không còn phù hợp với những người trẻ hiện nay. Ngay cả với các con mình, ông cũng đưa ra triết lý đó.

Phương Thuý