"Tôi đạp ga, chiếc tăng 390 rú ga, rồi chồm lên, húc đổ cổng sắt rộng khoảng 6m, cao hơn 3m được làm bằng sắt dầy đặc", người lính già lái xe tăng mang số hiệu 390 xúc động kể lại.

Thời khắc lịch sử      

Khéo léo điều khiển máy nâng hàng, chuyển từng lô hàng đầy ắp những hộp sơn rồi chuyển lên chiếc ô tô tải đang chờ sẵn ngoài cửa kho. Dưới mái tóc bạc, khuôn mặt của người lái xe lấm tấm mồ hôi, tuy đã ngoài lục tuần nhưng trông ông còn rất khỏe qua nước da sạm nắng. Ông chính là Nguyễn Văn Tập, người lính năm xưa đã lái chiếc xe tăng T59 mang số hiệu 390 đầu tiên húc đổ cổng Dinh Độc lập vào sáng ngày 30/4/1975.

Đôi mắt đỏ hoe, giọng nói ngắt nhịp vì xúc động, tuy đã 38 năm trôi qua, nhưng thời khắc của sáng ngày 30/4/1975, khi lái chiếc xe tăng T59 mang số hiệu 390 húc đổ cổng Dinh Độc lập – sào huyệt cuối cùng của chính quyền ngụy quân Sài Gòn không hề phai nhạt trong ông.

Ông Nguyễn Văn Tập, người lái xe tăng 390 húc đổ cổng Dinh Độc lập sáng ngày 30/4/1975.
Ảnh. Xuân Hải.

Từ ngày 26/4/1975, Đại đội tăng của ông tập trung đánh địch tại căn cứ Nước Trong, Đồng Nai, sau khi giải phóng Đồng Nai, đến đêm ngày 28/4/1975 đơn vị ông tiếp tục tiến sâu vào sào huyệt của chính quyền ngụy quân ở Sài Gòn. 

Khi ấy, muốn tiến vào được Sài Gòn phải qua được lũy chiến cầu Thị Nghè, một trong những điểm chốt quan trọng của địch. Để ngăn chặn bước tiến của quân ta, địch đã huy động hàng trăm lượt máy bay để thả bom hòng phá hủy, đánh sập cầu Thị Nghè, nhưng do hỏa lực của ta đánh mạnh, bom địch thả không trúng vị trí nên lực lượng quân giải phóng vẫn thẳng tiến vào Sài Gòn.

Tại Xa lộ Sài Gòn, địch đã bố trí rất nhiều hỏa, binh lực để chống trả quân giải phóng, tiếng đạn pháo, cùng các loại hỏa lực của ta và địch gầm rít trên bầu trời, trong đêm tối đạn pháo sáng rực cả Sài Gòn. Đến gần sáng, đại đội tăng của ông đã tiến vào sâu trong nội đô, từng chiếc xe tăng mang cờ giải phóng, phấp phới bay trên các tuyến đường Sài Gòn.

Đường phố Sài Gòn ngổn ngang những chiếc xe Jeep, thiết giáp, xe tăng, những khẩu súng AR5 của ngụy vứt lại, bừa bãi trên đường. Lúc đó khoảng 9 giờ 30 sáng ngày 30/4, Sài Gòn đã ngớt tiếng súng nổ, thi thoảng có vài tiếng nổ yếu ớt của những tên lính ngụy ngoan cố bắn trả quân giải phóng, không ít chiến sỹ đã ngã xuống trước khi miền Nam hoàn toàn giải phóng.

“Khi chiếc xe tăng mang số hiệu 390 do tôi điều khiển, trong đó có chính trị viên đại đội anh Vũ Đăng Toàn, làm tổ trưởng đã tiến đến cổng Dinh Độc lập, thấy chiếc xe tăng mang số hiệu 843 do Đại đội trưởng Bùi Quang Thận, làm tổ trưởng đang bị kẹt ở cổng phụ của Dinh. Thấy vậy, anh Toàn ra lệnh cho tôi, “Tiến thẳng húc đổ cổng chính”.

Tôi đạp ga, chiếc tăng 390 rú ga, rồi chồm lên, húc đổ cổng sắt rộng khoảng 6m, cao hơn 3m được làm bằng sắt dầy đặc. Cổng Dinh Độc lập đổ sập trong phút chốc, bị nghiền nát dưới bánh xích của hai chiếc xe tăng 390 và 843, nòng súng tăng được hạ xuống tầm thấp, nhằm thẳng dinh sẵn sàng nhả đạn khi có lệnh.

Những giọt nước mắt trong niềm vui chiến thắng

Khi tiến vào Dinh Độc lập, Đại đội trưởng Thận cùng Chính trị viên Toàn từ trên xe tăng lao xuống, anh Thận cầm cờ quân giải phóng chạy lên nóc dinh để cắm, còn anh Toàn vào trong Dinh Độc lập để dồn tướng lĩnh, tùy tùng của Tổng thống ngụy quyền Sài Gòn Dương Văn Minh vào một căn phòng, lúc đó ước chừng chỉ khoảng 40 – 50 tên.


Người lính già Nguyễn Văn Tập vẫn nhớ như in giây phút húc đổ cổng dinh độc lập

 “Khi ôm súng lao theo anh Thận, anh Toàn vào Dinh Độc lập, trong tích tắc tôi nghĩ nếu không có người phòng thủ tại xe, địch phản công bất ngờ thì hậu quả rất khó lường nên tôi nhanh chóng trở lại xe trong tư thế sẵn sàng chiến đấu”, ông Tập cho hay.

Rồi ông kể tiếp: Khi vào Dinh Độc lập, lúc 10 giờ 45’ ngày 30/4/1975, không một tiếng súng giữa ta và địch, tất cả đều im ắng, chỉ thấy vài người mặc áo phông, người mặc quần áo giống nhân viên văn phòng đứng co ro trong một góc sân. Trong khuôn viên của dinh rộng khoảng hơn 2000m2, dưới những tán cây xanh có vài chiếc xe thiết giáp, xen lẫn những chiếc xe Jeep, bên cạnh những chiếc xe hơi màu đen sang trọng, bóng loáng của tướng lĩnh, tổng thống ngụy quyền Sài Gòn.

Dinh Độc lập nơi  ông Dương Văn Minh làm việc, là tòa nhà 3 tầng, cao khoảng hơn 20m, trước cửa dinh có bể nước, các cửa dinh được làm bằng khung gỗ, lắp kính hầu như vẫn còn nguyên vẹn.

Đến 11 giờ ngày 30/4/1975, chỉ sau 15 phút xe tăng 390 và 843 tiến vào dinh, quân đội ta đã tiến vào đông nghịt cả Dinh Độc lập, lúc đó cờ của quân giải phóng đã bay phấp phới trên nóc dinh. Chiếm được Sài Gòn, chính quyền ngụy quân sụp đổ, trong giờ phút thiêng liêng ấy, nhiều chiến sỹ đã khóc vì sung sướng, miền Nam được giải phóng, đất nước Việt Nam đã hoàn toàn thống nhất.

Đến đúng 11 giờ 30’ ngày 30/4/1975, Tổng thống Dương Văn Minh đã phải đọc lời tuyên bố đầu hàng vô điều kiện quân giải phóng tại đài phát thanh Sài Gòn.

Đến 12 giờ, sau hơn 1 giờ tiến vào Dinh Độc lập, xe tăng 390 tiếp tục nhận được lệnh đến tiếp quản Cảng Sài Gòn. Thời điểm đó, đường phố Sài Gòn chật kín người dân của thành phố được mệnh danh “Hòn Ngọc Viễn Đông”, mang cờ hoa, khẩu hiệu để chào mừng đoàn quân giải phóng. Từ Dinh Độc lập ra đến cảng Sài Gòn chỉ 3km nhưng phải mất hơn 1 tiếng xe tăng mang số hiệu 390 mới đến được cảng.

“Quang cảnh tại cảng Sài Gòn rất hỗn loạn, một số kẻ cơ hội, lợi dụng đến đây để tranh cướp hàng hóa, kẻ ôm bó vải chạy, đứa vác thùng thịt hộp, rồi lao vào giằng xé hàng hóa, lúc đó chúng tôi phải bắn một phát đạn pháo lên trời mới trấn yên được trật tự tại cảng”, ông Tập nhớ lại.

Đang kể giọng người lính già trùng xuống, giọng buồn rầu ông nói: “Mặc dù đất nước đã thống nhất, nhưng khi tiếp quản Sài Gòn, sau ngày 30/4, nhiều chiến sỹ quân đội ta vẫn bị hy sinh do một số phần tử ngụy quân Sài Gòn ở trà trộn với dân bắn lén”.

Ông Tập kể, trong thời gian mới vào Sài Gòn, người dân còn gọi bộ đội là “ông” xưng “con”, thắc mắc hỏi vì sao bà con lại gọi như vậy thì họ nói là quen gọi lính ngụy như vậy. Thấy vậy, bộ đội giải thích cho bà con rõ là bộ đội cụ Hồ không phân biệt, đối xử với bà con như vậy, ai lớn thì làm anh, chị, bé thì làm em, đều là người Việt Nam phải coi nhau như người thân, phải một thời gian sau bà con mới quen.

Khi đất nước đã thống nhất được hơn 1 năm, tháng 7/1976 người lính lái xe tăng T59 mang số hiệu 390 – Nguyễn Văn Tập, xuất ngũ trở về Hải Dương quê ông. Rồi chuyển ra Hà Nội làm việc tại Công ty sơn Kova ở quận Hà Đông. Và điều thú vị, người con trai cả của ông là Nguyễn Văn Kết hiện nay đang là sỹ quan quân đội đóng tại Đồng Nai.

“Đặt tên cho con là Kết để gắn với tên tôi, gọi tên cả hai bố con lại thành Tập Kết là để nhớ thời gian vào giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, gia đình được đoàn tụ đấy”, người lính già cười rạng rỡ.

Thật thú vị khi ông tiết lộ, mặc dù ông là người lái chiếc xe tăng đầu tiên tiến vào Đinh Độc lập – sào huyệt cuối cùng của chính quyền ngụy Sài Gòn sáng 30/4/1975, nhưng phải đến 20 năm sau ngày Giải phóng miền Nam, ngày 30/4/1995 ông mới có cơ hội được trở lại Dinh Độc lập. Và lúc đó ông mới chính thức được đặt chân vào trong những căn phòng mà trước kia Tổng thống Dương Văn Minh cùng đám tuy tùng của chính quyền ngụy quân Sài Gòn bị đồng đội ông bắt sống và phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.

Ông Nguyễn Văn Tập (SN 1951), quê ở thôn Đại Tỉnh, xã Hoàng Diệu, huyện Gia Lộc, Hải Dương; nhập ngũ tháng 6/1970, đóng quân tại Thanh Hóa. Sau đó ông được tuyển về Đoàn H03 học lái xe tăng. Năm 1971, hành quân vào miền Nam. Cuối năm 1974, ông được giao nhiệm vụ lái xe tăng T59, số hiệu 390, lên đường vào Nam. 
Dòng xe tăng T59 chỉ có 4 người, gồm Trung sỹ Nguyễn Văn Tập, lái xe; pháo thủ 1, trung sỹ Ngỗ Sỹ Nguyên; pháo thủ  2 Lê Văn Phương; Trung úy Vũ Đăng Toàn, chính trị viên Đại đội, Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn 203, Quân đoàn 2, làm chỉ huy tăng 390. 
Trận đầu tiên, tăng 390 tham gia đánh giặc ở A Sầu và A Lưới, khu vực tây nam Huế. Năm 1975, tăng 390 tiếp tục tham gia chiến dịch giải phóng Huế, Đà Nẵng, Phan Rang, Phan Thiết, căn cứ Nước Trong (Đồng Nai) và Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.


Xuân Hải