Thực trạng về công tác đào tạo nghề trên địa bàn Thành phố và một số giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo nghề nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội trong thời kỳ mới.

Dân số thành phố Hà Nội năm 2014 có trên 7,3 triệu người, trong đó khoảng 4,4 triệu người trong độ tuổi lao động, gần 3,5 triệu người tham gia hoạt động kinh tế. Hàng năm, Thành phố có gần 80.000 người bước vào tuổi lao động. Dự báo, nhu cầu lao động giai đoạn 2015 - 2020 tạo ra do phát triển kinh tế - xã hội vào khoảng 130.000-150.000 người/năm. Như vậy, đến năm 2020, nhu cầu lao động cho toàn bộ nền kinh tế Hà Nội là hơn 4,5 triệu người. Tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2014 đạt 53,11%, trong đó lao động qua đào tạo nghề là 38,45%) nhưng chất lượng nguồn nhân lực của Hà Nội vẫn chưa tạo sự chuyển biến về căn bản. Thực trạng về mất cân đối giữa cung - cầu lao động, đặc biệt năng lực của lao động chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động đang là yếu tố cản trở tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của Hà Nội. Tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng khoảng 3,5%/năm. Tuy nhiên, số lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở vùng đô thị, các quận nội thành. Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề ở khu vực nông thôn còn thấp. Do đó, công tác dạy nghề cho lao động nông thôn Hà Nội rất cần được quan tâm triển khai để nâng cao chất lượng lao động trong khu vực nông nghiệp.

Lao động qua đào tạo nói chung, qua đào tạo nghề nói riêng gặp nhiều khó khăn trong tìm kiếm việc làm vì kỹ năng nghề chưa đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp. Hiện nay Hà Nội đang thiếu hụt lao động trình độ cao trong các ngành về kỹ thuật, cơ khí, điện, điện tử, cơ điện, công nhân trong các ngành sản xuất các sản phẩm từ hóa chất, cao su, plastics...Ngoài ra, lao động Hà Nội cũng giống như của cả nước, đó là đa số chưa đáp ứng được yêu cầu về ngoại ngữ, kỹ năng làm việc nhóm, tính kỷ luật, kiến thức về pháp luật lao động... nên năng lực cạnh tranh của lao động Hà Nội cũng như cả nước hiện nay với các nước trong khu vực và quốc tế thấp.

Phiên giao dịch việc làm tại Quận Cầu Giấy, Hà Nội

Nhìn chung, chất lượng đào tạo nghề qua các năm đã dần được nâng cao; sau học nghề học sinh, sinh viên, người lao động đã có kỹ năng nghề để tham gia lao động tại các doanh nghiệp, tự tạo việc làm hoặc thành lập tổ hợp tác, doanh nghiệp. Tại các Kỳ thi Tay nghề Quốc gia, ASEAN trong những năm gần đây, nhiều thí sinh Hà Nội đã đạt được thành tích xuất sắc. Kết quả đó phần nào khẳng định được chất lượng đào tạo, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Thành phố. Tuy nhiên,  chất lượng đào tạo nghề, mặc dù đã có chuyển biến nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động về tay nghề và các kỹ năng mềm như tác phong công nghiệp, khả năng làm việc theo tổ, nhóm. Kỹ năng nghề, năng lực nghề nghiệp của lao động Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung vẫn còn khoảng cách lớn so với các nước phát triển trên thế giới và trong khu vực. Chất lượng dạy nghề đối với những nghề mũi nhọn, nghề trọng điểm mang tính cạnh tranh cao của nền kinh tế chưa được khẳng định.

Trong giai đoạn tới, Sở LĐ-TB&XH đã đưa ra một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực qua đào tạo nghề, đó là:

1.Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền các chủ trươngcủa Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước đối với công tác dạy nghề và học nghề bằng nhiều hình thức. Thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo”, và Luật Giáo dục nghề nghiệp; triển khai thực hiện Kế hoạch số 231/KH-UBND ngày 31/12/2014 của UBND Thành phố về thực hiện Chị thị số 37-CT/TW ngày 06/6/2014 của Ban Bí thư Trung ương Đảng “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đào tạo nhân lực có tay nghề cao” và Chương trình hành động số 28-CTr/TU của Thành ủy về lĩnh vực này.

Giờ thực hành cơ khí tại trường Cao đẳng nghề Hà Nội

2. Đẩy mạnh công tác xã hội hóa, huy động và đa dạng hóa các nguồn lực đầu tư cho đào tạo nghề. Mở rộng và đầu tư phát triển các cơ sở dạy nghề với mô hình liên kết giữa doanh nghiệp và các cơ sở dạy nghề; liên kết đào tạo với các cơ sở đào tạo nước ngoài có uy tín. Gắn đào tạo nghề với sử dụng lao động theo yêu cầu thực tiễn sản xuất - kinh doanh, đẩy mạnh việc đào tạo theo địa chỉ, theo đơn đặt hàng, gắn đào tạo nghề với giải quyết việc làm, với thị trường lao động.

3. Tiếp tục tập trung nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất trang thiết bị dạy nghề cho các trường dạy nghề công lập của Thành phố theo hướng hiện đại, đảm bảo năng lực cạnh tranh với các trường trong khu vực về cả quy mô đào tạo, ngành nghề đào tạo, trong đó ưu tiên đầu tư với các trường Cao đẳng nghề có các nghề đào tạo về công nghệ tự động hóa, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới..., các nghề trọng điểm, nghề mũi nhọn gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô để nguồn nhân lực được đào tạo vừa đáp ứng được nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao của Thành phố vừa có thể cạnh tranh trong thị trường lao động hội nhập.

4. Hình thành, hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu kết nối thông tin cung - cầu của thị trường lao động Thành phố để phân tích, đánh giá và xây dựng kế hoạch đào tạo nghềđáp ứng nhu cầu của xã hội từng giai đoạn.

5. Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng chuẩn hóa đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý của các cơ sở dạy nghề trên toàn Thành phố, nâng cao chất lượng giáo viên dạy nghề. Thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kỹ năng nghề cho giáo viên, giảng viên các trường công lập thuộc Thành phố giai đoạn 2015 - 2020 theo Kế hoạch số 206/KH-UBND ngày 10/12/2014 của UBND Thành phố. Chỉ đạo các cơ sở đào tạo công lập đổi mới công tác tuyển chọn giáo viên dạy nghề, đánh giá năng lực giáo viên thông qua kết quả chất lượng đầu ra của học sinh học nghề.

6. Chuyển mạnh đào tạo nghề từ hướng cung sẵn có của các cơ sở dạy nghề sang đáp ứng hướng cầu của thị trường lao động và nhu cầu phát triển kinh tế xã hội từng địa phương. Các cơ sở dạy nghề chủ động xây dựng, biên soạn chương trình, giáo trình theo hướng cầu của thị trường, thường xuyên cập nhật kiến thức khoa học công nghệ để đổi mới, phát triển chương trình đào tạo nhằm khẳng định chất lượng của hệ thống giáo dục nghề nghiệp và tiếp cận trình độ tiên tiến khu vực và quốc tế. Phối hợp, gắn kết doanh nghiệp cùng tham gia vào quá trình biên soạn chương trình, giáo trình phù hợp với thực tiễn sử dụng lao động của doanh nghiệp.

7. Có chính sách thiết thực khuyến khích, thu hút giáo viên dạy nghề, đặc biệt giáo viên dạy nghề thuộc các ngành kinh tế trọng điểm: mức lương đãi ngộ, phụ cấp giáo viên, cơ hội bồi dưỡng, nâng cao trình độ, tiếp cận chương trình mới...

8. Thiết lập mối quan hệ giữa cơ sở dạy nghề với các tổ chức, doanh nghiệp trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp, tuyển dụng lao động qua đào tạo: xây dựng các chính sách thu hút, khuyến khích doanh nghiệp tham gia vào đào tạo nghề và chính sách ràng buộc doanh nghiệp trong tiếp nhận, tuyển dụng lao động vào làm việc.

9. Có chính sách phân luồng học sinh sau tốt nghiệp THCS,THPT vào học nghề. Phối hợp chặt chẽ giữa các ngành trong xây dựng đề án phân luồng học sinh sau tốt nghiệp THCS,THPT vào học nghề. Tiếp tục quan tâm, khuyến khích, tạo điều kiện tốt nhất để thu hút người đến học nghề bằng các chính sách như: vay vốn học nghề; giảm, miễn học phí cho con em gia đình chính sách, hộ nghèo, bộ đội xuất ngũ, đồng bào dân tộc thiểu số, người tàn tật...

10. Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về đào tạo nghề. Nghiên cứu tham mưu đề xuất ban hành các chính sách ưu đãi đối với dạy nghề. Đồng thời, triển khai thực hiện tốt các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Giáo dục nghề nghiệp.

Khuất Văn Thành - Giám đốcSở LĐ-TB&XH