Trong nhiệm kỳ 2015 - 2020, Hà Nội phấn đấu thực hiện thắng lợi toàn diện 17 chỉ tiêu chủ yếu trên các lĩnh vực cơ bản.

Thành ủy Hà Nội đã ban hành Chương trình số 12-CTr/TU về “Chương trình hành động của Đảng bộ thành phố thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng gắn với thực hiện Nghị quyết Đại hội XVI Đảng bộ thành phố. Theo đó, thành phố tập trung lãnh đạo, phấn đấu thực hiện tốt mục tiêu tổng quát 5 năm tới của Nghị quyết Đại hội XVI Đảng bộ thành phố là: “Xây dựng Đảng bộ thực sự trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên; Phát huy truyền thống văn hiến, anh hùng, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân; Huy động mọi nguồn nguồn lực, đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, sự nghiệp CNH, HĐH; Xây dựng Thủ đô ngày càng giàu đẹp, văn minh, hiện đại. Kinh tế tiếp tục tăng trưởng, cơ cấu chuyển dịch theo hướng: Dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp, có nhiều sản phẩm với hàm lượng công nghệ, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh cao. Đẩy mạnh, nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch, trật tự xây dựng và quản lý đô thị; Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ngày càng đồng bộ, hiện đại, môi trường bền vững. Văn hóa - xã hội, giáo dục và đào tạo, y tế, khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển; An sinh xã hội được bảo đảm, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện và nâng cao; Quốc phòng - an ninh được củng cố vững chắc; Quan hệ đối ngoại được mở rộng, nâng cao vị thế và uy tín của Thủ đô. Phát huy vai trò đầu tàu, trung tâm phát triển của vùng đồng bằng sông Hồng và cả nước”.

Trong nhiệm kỳ 2015 - 2020, phấn đấu thực hiện thắng lợi toàn diện 17 chỉ tiêu chủ yếu trên các lĩnh vực cơ bản. Về kinh tế: Tăng trưởng GRDP bình quân giai đoạn 2016 - 2020 là 8,5-9% (trong đó dịch vụ 7,8-8,3%, công nghiệp - xây dựng 10-10,5%, nông nghiệp 3,5-4%). Cơ cấu kinh tế năm 2020: Dịch vụ 67-67,5%, công nghiệp - xây dựng 30-30,5%, nông nghiệp 2,5-3,0%. GRDP bình quân/người là 140-145 triệu đồng (tương đương 6.700-6.800 USD). Năng suất lao động xã hội bình quân tăng 6,5%/năm. Huy động vốn đầu tư xã hội giai đoạn 2016 - 2020 khoảng 2.500-2.600 nghìn tỷ đồng (tương đương mức tăng 13-14%/năm). Tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới trên 80% tổng số xã (tăng thêm 110-130 xã so với năm 2015).

Về văn hóa - xã hội: Tỷ lệ tổ dân phố được công nhận và giữ vững danh hiệu “Tổ dân phố văn hoá” là 72%; làng được công nhận và giữ vững danh hiệu “Làng văn hoá” 62%; gia đình được công nhận và giữ vững danh hiệu “Gia đình văn hóa” 88%. Tỷ lệ trường công lập (mầm non, tiểu học, THCS, THPT) đạt chuẩn quốc gia 65-70%. Phấn đấu số giường bệnh/vạn dân là 26,5; Số bác sĩ/vạn dân là 13,5; Tỷ lệ xã, phường đạt chuẩn quốc gia về y tế (theo chuẩn mới của Bộ Y tế) là 100%. Tỷ lệ lao động đang làm việc đã qua đào tạo (có chứng chỉ) 70-75%. Tỷ lệ thất nghiệp thành thị dưới 4%. Tỷ lệ hộ nghèo cuối kỳ theo chuẩn mới dưới 1,2%.

Về môi trường: Tỷ lệ hộ dân nông thôn được sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh là 100%; tỷ lệ hộ dân đô thị được sử dụng nước sạch là 95-100%. Tỷ lệ rác thải được thu gom, xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường Việt Nam khu vực đô thị 95-100%; Khu vực nông thôn 90-95%; Tỷ lệ khu công nghiệp, khu chế xuất hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường là 100%. Tỷ lệ cụm công nghiệp đang hoạt động và xây dựng mới có trạm xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn hoặc quy chuẩn quốc gia tương ứng là 100%. Tỷ lệ chất thải nguy hại được xử lý 90-95%; Tỷ lệ chất thải y tế được xử lý 95-100%.

Về xây dựng Đảng: Kết nạp trên 12.000 đảng viên/năm; Tỷ lệ đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ hằng năm là 70%; Tỷ lệ tổ chức cơ sở đảng đạt tiêu chuẩn trong sạch, vững mạnh hằng năm là trên 50%.

BTV