Trung Quốc đang sôi động chuẩn bị lễ diễu binh ngày 3/9 với mục đích Giả thiết một cuộc xung đột Trung Nhật thì tương quan lực lượng thế nào và bên nào có khả năng dành chiến thắng lớn hơn? Phân tích của chuyên gia Nga.

Tình hình xung đột chính trị xung quanh các hòn đảo mà Trung Quốc và Nhật Bản đang tranh chấp ngày một nóng lên. Cho đến nay cả hai bên đều cố gắng kiềm chế để đưa ra những tuyên bố mang tính quân sự cứng rắn. Những những xung đột tiềm ẩn trong đó hàm chứa một nguy cơ chuyển thành xung đột vũ trang và – khó có thể đoán trước! một cuộc chiến tranh có giới hạn?! Các chuyên gia chiến lực quân sự nước ngoài cũng đưa ra những nhận xét trái chiều, mâu thuận và thậm chí đối kháng nhau. Chúng ta thử so sánh lực lượng và dự báo một tình huống, nếu xảy ra cuộc xung đột giữa hai cường quốc kinh tế này, kịch bản của trận chiến trên Thái bình dương sẽ diễn ra thế nào?

 Vị trí quần đảo Senkaku

Tương quan lực lượng:

Lực lượng Tự vệ Biển Nhật Bản có khoảng 134 hạm tàu các chủng loại, 339 máy bay các loại trong đó  có  44 chiến hạm hiện đại.  Trong đó có 2 tàu khu trục đổ bộ hạng nặng lớp Hyūga, 2 tàu đổ bộ hạng trung lớp Shirane. Nhóm tàu khu trục hiện đại có trang bị tên lửa có điều khiển (DDG) gồm 2 tàu lớp Atago, 4 tàu lớp Kongo, 2 tàu lớp Hatakaze. Nhóm tàu khu trục thông thường (DG) gồm 2 tàu lớp Akizuki, 5 tàu lớp Takanami, 9 tàu lớp Murasame, 8 tàu lớp Asagiri, 10 tàu lớp Hatsuyuki.

 Tàu khu trục đổ bộ lớp Hyuga

Mặc dù không sở hữu tàu ngầm hạt nhân, nhưng Nhật Bản là một trong số các quốc gia có nhiều tàu ngầm diesel-điện có tính năng kỹ - chiến thuật tương đối cao, độ ồn rất thấp và khả năng hoạt động lâu ngày do sử dụng động cơ Striling và được lắp đặt các khí tài điện tử, ngư lôi và tên lửa chống tàu, tấn công các mục tiêu mặt đất hiện đại. Hải quân Nhật đang sở hữu khoảng 18 tàu ngầm trong đó  4 tàu ngầm tấn công lớp Soryu, 11 tàu lớp Oyashio và 3 tàu lớp Harushio (dùng cho nhiệm vụ huấn luyện thủy thủ).

Khu trục hạm lớp Kongo

Tàu ngầm lớp Oyashio SS-590

Đồng thời lực lượng phòng vệ biển Nhật Bản cũng được trang bị các tàu phụ trợ như một số loại tàu rà quét mìn thủy lôi các loại, số lượng khoảng 29 tàu. Các tàu đổ bộ hiện đại như 3 tàu đổ bộ lớp Ōsumi, 2 tàu đổ bộ phục vụ lớp I-Go, 2 tàu lớp Yura, tổng số khoảng từ 7 đến 9 tàu.

Không quân hải quân Nhật Bản gồm có: Máy bay chống ngầm Lockheed P-3 Orion, Kawasaki P-1 82 chiếc, má bay tác chiến và trinh sát điện tử EP-3 5 chiếc, trực thăng chống ngầm Mitsubishi SH-60 – 97 chiếc, Máy bay trực thăng ra quét và rải thủy lôi CH-53E Super Stallion, AgustaWestland AW101, 17 chiếc và trực thăng tác chiến trên biển UH-60 Black Hawk 19 chiếc.

 Máy bay Mitsubishi F 15 của Nhật Bản

Lực lượng phòng vệ không quân Nhật Bản có quân số khoảng 45,000 người (2005), biên chế trang bị 791 máy bay các chủng loại, các máy bay chiến đấu là 350 chiếc bao gồm Mitsubishi F-2, Mitsubishi F-15 Eagle, F-4 Phantom II (trong đó có 12 chiếc F-2 đã bị hư hại bời sóng thần và bị loại bỏ, các máy bay Phantom cũng dần được thay thế bởi F- 15s hoặc F- 35As.);

Máy bay trinh sát điện tử cảnh báo sớm và kiểm soát bầu trời Boeing E-767, Grumman E-2 Hawkeye, tổng số là 17 chiếc; Máy bay tác chiến điện tử NAMC YS-11, Kawasaki C-1 tổng số 5 chiếc;

Vũ khí phòng không của Nhật Bản bao gồm có súng tự động phòng không M167 VADS, tên lửa đánh chặn MIM-104 Patriot (PAC-2 & PAC-3), tên lửa phòng không Type 81, Type 91  và hệ thống tên lửa phòng không tầm thấp đánh chặn tên lửa hệ thống Aegic (Surface-to-Air Missile for Aerial base Defense)

Lực lượng Hải quân Trung Quốc có khoảng 250,000 quân nhân, biên chế 1 tàu tuần dương,  14 Tàu khu trục trong đó có 4 Khu trục hạm 956/ 956EM Hạng Sovremenny ; 1 Khu trục hạm 051B (Lữ Hải ); 2 Khu trục hạm 051C ( Lữ châu); 2 Khu trục hạm 052B( Lương ); 5 Khu trục hạm 052C hạng ( Lương II). 28 Tàu khinh hạm các loại: 2 tàu Lớp 052 (Lữ Hộ); 1 tàu lớp 051 (Lữ Đại ); 13 tàu Lớp 054A(Giang Khải ); 2 tàu Lớp 054 (Giang Khải ); Tàu hộ vệ tên lửa (Corvette) 35 chiếc, tàu tên lửa tốc độ cao 119 chiếc. 

Tàu tuần dương Cáp Nhĩ Tân của Trung Quốc
Khu trục hạm lớp 52C Trung Quốc

Lực lượng tàu ngầm của PLAN rất lớn, với tất cả các loại tàu: Tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa SSBN: 5 , tàu ngầm nguyên tử tấn công đa nhiệm SSN: 8; tàu ngầm diesel điện có khoảng 58 chiếc bao gồm: lớp Tống Song-class : 14; lớp Kilo các loại 877EKM, 636; 636M: 12; lớp 041 Nguyên (Yuan-class) - 2; lớp 033 - Romeo (Romeo-class) – 06; lớp 035G - Minh (Ming-class) – 17; một tàu ngầm diesel tên lửa và một tàu ngầm diesel cứu hộ.

PLAN có khoảng 58 tàu đổ bộ các loại, trong đó có cả tàu đổ bộ đệm khí cỡ lớn Zubr sản xuất từ Liên bang Xô viết, có tốc độ tiến công và đổ bộ đường biển rất lớn. Lực lượng không quân Hải quân Trung quốc có khoảng hơn 200 máy bay.

Các chiến hạm công kích chủ lực của Trung Quốc được trang bị các loại tên lửa đối hạm và phòng không rất mạnh như tên lửa chống tàu Moskit, Club - K 3M-54E1, các tên lửa do Trung Quốc sản xuất theo các bản copy, trong đó có cả tên lửa mẫu copy Tomahawk. Tên lửa phòng không S-300 lắp trên tàu (HHQ-9), đồng thời cũng được trang bị các loại ngư lôi tiên tiến. Hệ thống radar tác chiến cũng được nâng cấp đáng kể, tuy chưa được hiện đại như Aegis nhưng cũng đã tiến gần đến nhưng yêu cầu kỹ thuật của hệ thống điều khiển hỏa lực mạng hiện đại.

Các chiến hạm tấn công của Trung Quốc cũng được áp dụng công nghệ Steath (tàng hình) với phương pháp tán xạ các tia radar chủ động.

Không quân Trung Quốc có số lượng máy bay tác chiến khá lớn, tính riêng số lượng máy bay tiêm kích đa nhiệm các dự án thiết kế như Chengdu J-10, Sukhoi Su-30MKK, Shenyang J-11, Sukhoi Su-27, Shenyang J-8, Chengdu J-7, PLA có khoảng 1045 máy bay chiến đấu hiện đại; máy bay cường kích đánh chặn, máy bay ném bom có khoảng 540 chiếc, máy bay trinh sát và cảnh báo, tác chiến điện tử dự án thiết kê KJ 2000 AWAC và KJ 200 AEW&C có 10 chiếc (Các con số tính đến nửa đầu năm 2012). Trực thăng chiến đấu có khoảng gần 100 chiếc. Đồng thời Trung Quốc cũng sở hữu rất nhiều loại máy bay chiến đấu không người lái.

Như vậy, điểm qua các con số thống kê thực tế, có thể nhận thấy, số lượng các phương tiện tác chiến không hải của Trung Quốc lớn hơn rất nhiều lần so với Nhật Bản. Cũng phải nhận xét rằng, các phương tiện tác chiến của Trung Quốc mới được sản xuất, dựa theo các tiêu chuẩn kỹ chiến thuật của các nước tiên tiến, trước hết là khối NATO và Liên bang Nga.

Theo ý kiến của chuyên gia phân tích chiến lược, ông Vasily Kashin, tổng biên tập tờ tạp chí Moscow Defence Brief nhận định: Trên biển, lực lượng hải quân PLA vượt trội hẳn về số lượng, nhưng về chất lượng, hạm đội của Trung Quốc thua sút hơn hẳn về chất lượng.

Ông Vasily kashin phân tích: Trung Quốc đã đóng những chiến hạm hiện đại bắt đầu vào những năm 2007. Các chiến hạm trước đây đã quá lỗi thời và hư hỏng, Trung Quốc có nhiều tàu ngầm, bao gồm cả tàu ngầm nguyên tử, trên thực tế là một hiểm họa đối với lực lượng hải quân Nhât. Lực lượng hải quân Nhật bản được xây dựng tập trung vào năng lực chống ngầm, đặc biệt để chống lại các tàu ngầm liên bang Xô Viết.

Các chuyên gia quân sự Mỹ trong tác chiến không hải đã đưa ra nhận xét – trong các kế hoạch tác chiến chống ngầm, kinh nghiệm, trang thiết bị và các giải pháp của quân nhân Nhật Bản dưới một góc nhìn nào đó còn vượt cả lực lượng chống ngầm quân đội Mỹ.   Chúng ta hoàn toàn chưa biết nhiều lắm về lực lượng tàu ngầm Trung Quốc, nhưng PLA cũng không thể hiện cao lắm khả năng tác chiến tàu ngầm, lực lượng binh chủng tàu ngầm không có chất lượng tốt và không được huấn luyện sẵn sàng chiến đấu cường độ cao trong tác chiến tàu ngầm. Họ vẫn còn bị chi phối bởi tư duy “đất liền quyết định biển khơi”. 

Trung Quốc hiện nay đang giữ một vị thế tương tự như Liên bang Xô Viết vào giai đoạn cuối năm 50-x – 60-x, ông Kashin nhận định – họ sẽ xây dựng lực lượng hải quân hiện đại để vươn ra biển lớn, nhưng họ cũng đứng trước nhưng vấn đề rất khó khăn: Thứ nhất – vượt qua vô vàn những khó khăn về kỹ thuật và công nghệ, điều đó chiếm một thời gian rất lớn; Thứ hai – Trung Quốc cần tiến hành một bước đại nhảy vọt về năng lực tác chiến, khả năng chiến đấu, chiến thuật và tổ chức biên chế lực lượng vũ trang trong tác chiến hiện đại. Hải quân Xô viết trong điều kiện lúc đó, đã bắt đầu phát triển từ những hạm đội ven bờ, không có khả năng tác chiến trên biển lớn, trải qua 10 năm nỗ lực đã có thể tiến hành những hoạt động trên các vùng nước đại dương. Trung Quốc hiện nay mới ở giai đoạn khởi đầu.

Vào những năm 80-x Hải quân PLA bắt đầu tiến trình thoát khỏi quan điểm phòng thủ bờ biển và vùng nước ven bờ: các hạm đội đến thời điểm đó chủ yếu là các cụm tàu lớn với một số lượng nhỏ các tầu có lượng giãn nước lớn, đại đa số là các chiến hạm hạng nhẹ và các xuồng phóng lôi, tên lửa tốc độ cao, đồng thời có một số lượng rất lớn các đơn vị pháo bờ biển. Sự phát triển thực sự của hạm đội bắt đầu vào những năm 90-x. Hạm đội phát triển có chất lượng cao được bắt đầu từ thập niên gần đây, nguyên nhân chủ yếu vẫn là thiếu hụt về kinh nghiệm và học viện quân sự hải quân, điều sẽ làm cho hải quân PLA cảm thấy tự tin hơn trong hành động.

Phó giám đốc thứ  nhất của Học viện Các vấn đề địa chính trị, Thuyền trưởng cấp 1 Konstantin Sivkov đánh giá cao về những khả năng của quân đội PLA đặc biệt là không quân và hải quân: “ Theo số lượng thì binh lực của Trung Quốc vượt trội hơn nhiều lần Nhật Bản. Trung Quốc có khoảng 1,5 triệu quân thường trực chiến đấu thời bình (theo sách Trắng PLA), Nhật Bản có khoảng 250 nghìn quân.

Nếu chiến tranh xảy ra trên đảo, thì lực lượng tác chiến chủ yếu sẽ là không quân và hải quân. Trung Quốc để giải quyết bài toán xung đột vũ trang thời gian ngắn có thể sử dụng một lực lượng không quân khoảng 400 – 500 máy bay, khoảng hơn 20 tàu ngầm diesel – điện, kết hợp với 3 tàu ngầm nguyên tử - các đảo Senkaku có vị trí địa lý không xa bờ biển của Trung Quốc, do đó PLAN có thể tăng cường một số lượng lớn các tàu cao tốc tên lửa, tàu khu trục tên lửa. Nhật Bản có thể điều động khoảng 150 máy bay tiêm kích đa nhiệm cấp chiến thuật, khoảng 10 chiếc tàu diesel – điện, 5 – 10 tàu khu trục và tàu hộ vệ tên lửa. Biên chế binh lực của Nhật Bản nếu tính về số lượng thấp hơn cụm không quân hải quân công kích của PLAN khoảng 3 lần.” 

Máy bay tiêm kích đa nhiệm Chengju J-10

Lực lượng không quân của PLA cơ bản là các máy bay đã lỗi thời. Về chất lượng kỹ chiến thuật, các phương tiện tác chiến của Nhật Bản vượt trội về chất lượng. Trung Quốc hiện chưa có máy bay trinh sát và cảnh báo sớm. Nhật Bản đã trang bị máy bay trinh sát được trang bị hiện đại, có thể quản lý toàn bộ không gian tác chiến và điều hành các hoạt động tác chiến trên không, sự vượt trội về công nghệ đó tạo ra ưu thế làm chủ bầu trời của không quân tiêm kích Nhật Bản. nói chung, trong tác chiến trên không, cán cân lực lượng của Trung Quốc và Nhật Bản tương đường nhau, dù số lượng của không quân PLA lớn hơn. 

 Tiêm kích – ném bom Hải quân JH-7

So sánh cán cân lực lượng của hải quân, các tàu ngầm của Trung Quốc theo các thông số kỹ chiến thuật và công nghệ chế tạo thì tương đương với các hạm tàu được sản xuất vào những năm 70 –x. các tầu ngầm có tiếng ồn lớn. Nhật Bản có những tàu ngầm hiện đại hơn, độ ồn thấp hơn, do đó hiệu quả tác chiến ngầm cao hơn của Trung Quốc. Thực tế so sánh binh lực thì số lượng chiến hạm tham chiến của Trung Quốc chắn chắn lớn hơn của Nhật Bản từ 2 đến 3 lần, mặc dù số lượng tên lửa và tầm bắn của các tên lửa đó tương đương nhau.

Cuộc chiến quy ước.

Ông Vasily Kashin nhận xét: “có nhiều khả năng Trung Quốc sẽ thất bại thê thảm nếu sử dụng xung đột vũ trang để chiếm đảo – nếu xảy ra một cuộc chiến tranh giới hạn mà lực lượng hai bên tương đương nhau, người Trung Quốc sẽ tổn thất nặng nề và khó lòng có thể gây ra những tổn thất tương đương cho phía người Nhật.

Tại thời điểm này người Nhật có ưu thế hơn hẳn về cơ sở vật chất và trang thiết bị kỹ thuật, đồng thời lực lượng vũ trang Nhật Bản có ưu thế hơn hẳn về huấn luyện sẵn sàng chiến đấu và kinh nghiệm, năng lực kỹ chiến thuật, khả năng điều hành và chỉ huy tác chiến. PLA xây dựng các hệ thống quản lý, điều hành, chỉ huy tác chiến và huấn luyện chiến đấu hoàn toàn mới, hệ thống tổ chức binh lực chưa được thử nghiệm trên chiến trường.

Cấp độ sẵn sàng chiến đấu của các kíp trắc thủ, các phi đội, các thủy thủ đoàn vẫn còn có nhiều dấu hỏi. Ngoài ra, vũ khí trang bị và phương tiện chiến tranh của PLA thua sút so với của Nhật Bản, do đó các đơn vị của PLA khó lòng phát huy được hết uy lực tác chiến của vũ khí khí tài, đồng thời với phương thức chỉ huy điều hành tác chiến cổ điển của chiến thuật đại binh có thể dẫn đến các tổn thất nặng nề. Có lẽ, chiến tranh sẽ kết thúc với một thảm bại mang tính hủy diệt, và đối với Trung Quốc thì điều đó không thể nói có ý nghĩa thế nào.

“ Hải quân Nhật Bản thực tế là lực lượng hùng mạnh – ông khẳng định – Mặc dù Trung Quốc đã có những bước tiến vượt bậc trên lĩnh vực hải quân, nhưng để bước lên đẳng cấp của Nhật Bản, đặc biệt trong lĩnh vực chiến thuật và huấn luyện lực lương, người Trung Quốc cần kinh nghiệm và nhiều năm huấn luyện chiến đấu nữa”

Constantine Sivkov không đồng ý với nhận xét này, ông khẳng định: tổn thất của PLA sẽ rất lớn, nhưng người Nhật cũng sẽ có những thiệt hại đáng kể. Trong trường hợp xảy ra xung đột vũ trang cấp độ cao, PLA sẽ sử dụng phương án chiến đấu tấn công, với mật độ phương tiện tác chiến dày đặc. Lực lượng phòng vệ Nhật Bản sẽ buộc phải lựa chọn giải pháp phòng ngự chủ động, nếu xung đột trực tiếp binh lực, Trung Quốc có nhiều khả năng đạt được mục đích đặt ra.

Trung Quốc có ưu thế vượt trội về số lượng các tàu tên lửa hạng nhẹ và các tàu khu trục mang tên lửa, theo công bố của báo giới đại lục, có công nghệ tương đương với công nghệ thế giới. với số lương lớn, PLAN có thể bao vây công kích và tiêu diệt các cụm chiến hạm của Nhật Bản  ngay cả trong trường hợp với tổn thất lớn, đồng thời đổ bộ lực lượng đánh chiếm quần đảo.

Với số lượng vượt trội về không quân và lực lượng dự bị, không chiến trên bầu trời sẽ rất dữ dội, tiêm kích Nhật Bản sẽ phải đối phó với những đợt tiến công liên tiếp, nhiều tầng nhiều hướng, lực lượng phòng không trên biển của Nhật sẽ phải đối phó với các đợt tấn công của tên lửa hành trình mặt đất, do đó sự hỗ trợ sẽ là rất thấp. Với số lượng nhỏ hơn, khả năng bẻ gãy các đợt không kích và yểm trợ hải quân trên biển cũng bị suy giảm, do đó, tính khả thi của khả năng dành thằng lợi của PLA nói chung rất lớn.

“ Không thể đánh giá thấp cấp độ huấn luyện chiến đấu của PLAN, theo những thông tin công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng, cấp độ huấn luyện của PLAN hoàn toàn không thấp hơn hải quân Nhật Bản, mà có thể cao hơn – ông Sivkov nhận định – điểm khác hơn so với Nhật Bản, quân đội PLA huấn luyện tích cực, chủ động và rất thường xuyên, nội dung huấn luyện cơ bản và rất vững chắc, đồng thời quân đội Trung Quốc cũng sử dụng một số lượng lớn vũ khí, trang thiết bị và phương tiện chiến tranh phục vụ huấn luyện.

Như vậy, nếu xét trên góc độ năng lực chiến đấu, có thể coi năng lực tác chiến thực tế của hai bên ngang nhau, Nhật Bản vượt trội hơn Trung Quốc về kinh nghiệm tác chiến trên biển có từ đại chiến thế giới lần thứ II, nhưng với số lượng lớn, Trung Quốc cũng có thể bù đắp điểm yếu này. Do đó Trung Quốc hoàn toàn có khả năng tiêu diệt các cụm không quân Nhật ngay trên bầu trời Nhật Bản, dù có những tổn thất vô cùng lớn – nhưng có thể thực hiện được, nhằm mục tiêu là đổ bộ lực lượng lên đảo Sankaku.

Lực lượng đồng minh

Nhật Bản mặc dù có số lượng binh lực thấp hơn nhiều lần so với quân đội Trung Quốc, nhưng lại có một lợi thế vượt trội – là Đồng minh của Mỹ, theo hiệp ước phòng thủ chung đồng minh, quân đội Mỹ bắt buộc phải tham gia vào xung đột vũ trang, nêu như trong các quan hệ quốc tế, Nhật Bản có nguy cơ bị xâm lược. Trong những dự báo về cuộc chiến tranh giữa Trung Quốc với lực lượng đồng minh Mỹ, Nhật, các chuyên gia đều có đồng quan điểm, Trung Quốc sẽ nhanh chóng thảm bại.

Theo nhận xét của ông Constantine Sivkov, nhân tố quân đội Mỹ đương nhiên sẽ loại trừ khả năng Trung Quốc tiến hành một cuộc xung đột vũ trang trong khu vực quần đảo Senkaku. Trong cuộc đối đầu có tính quy ước giữa PLAN và không quân – hải quân Mỹ - Nhật, ngay cả trong trường hợp Trung Quốc đưa vào cuộc không kích một số lượng khổng lồ các máy bay chiến đấu, lực lượng không quân Mỹ trên các tàu sân bay, lực lượng cụm không quân chiến thuật trên đảo Okinawa và lực lượng không quân chiến lược trên đảo Guam kết hợp với lực lượng không quân Nhật Bản theo số lượng biên chế có khả năng ngăn chặn mọi đòn công kích đường không của Trung Quốc, đồng thời sẽ tấn công các căn cứ ven biển, các sân bay, căn cứ hải quân bằng và hệ thống hạm đội PLAN tên lửa hành trình Tomahawk với số lượng rất lớn.

Đây là đòn phản kích vô cùng mạnh mẽ, lực lượng không quân PLA sẽ bị tiêu diệt phần lớn cùng với hạ tầng cơ sở kỹ thuật, không quân và các căn cứ hải quân Trung Quốc hoàn toàn không thể chịu đựng được trong vòng hai tuần, lực lượng không quân sẽ không còn khà năng chiến đấu. Với sự tham chiến của tàu ngầm nguyên tử đa nhiệm Los Angeles, liên hải quân Mỹ - Nhật sẽ nhanh chóng dìm tất cả các chiến hạm tham chiến của Trung Quốc xuống biển Hoa Đông.

Vũ khí trên hạm tàu của Trung Quốc rất mạnh, nhưng hệ thống phòng không tương đối yếu, Trung Quốc có các chiến hạm phòng không được trang bị tên lửa phòng không tương đương S-300, nhưng hệ thống radar trinh sát, dẫn đường và chỉ thị mục tiêu chưa đồng bộ, thống nhất các loại hỏa lực phòng không, do đó với tên lửa chống tàu lớp Tomahawk hoàn toàn không có khả năng đánh chặn.

Các tên lửa chống tàu của Mỹ có tầm bắn xa ngoài tầm tấn công của tên lửa Trung Quốc, do đó các chiến hạm Mỹ nằm ngoài tầm với. Trong điều kiện thực tế, nếu tình huống chính trị liên quan đến các đảo ở Senkaky nóng lên đến mức xảy ra xung đột vũ tranh, và nếu cuộc xung đột tiềm năng đó có sự tham gia của hải quân Mỹ thì khả năng cao nhất của Trung Quốc là chấm dứt các hoạt động quân sự, nhưng sẽ sử dụng phương pháp có hiệu quả hơn, đó là các đòn phản kích về kinh tế.

Không có sự yểm trợ của Mỹ, lực lượng phòng vệ biển Nhật Bản khó lòng giữ được các hòn đảo đó, nêu như chính phủ Trung Quốc quyết tâm chiếm đảo bằng mọi giá. Mặc dù không quân Trung Quốc sẽ có những tổn thất rất lớn, dự kiến đến 150 máy bay chiến đấu, và Nhật Bản cũng sẽ bị tổn thất một số lượng máy bay đáng kể (hàng chục chiếc), cũng không ngăn chặn được Trung Quốc đổ bộ lên đảo. Nhưng nếu Mỹ tham chiến theo hiệp ước, thì lực lượng không hải của PLA sẽ nhanh chóng bị tiêu diệt mà không đạt được mục đích đề ra.

Mỹ không chiếm vị trí nào trong cuộc tranh chấp biển đảo, nhưng nếu xảy ra xung đột vũ trang, các chính khác Mỹ có thể giải thích như một hành động tấn công xâm lược Nhật Bản, và theo hiệp ước họ có thể gửi quân đội tham chiến - Vasily Kashin dự đoán – quân đội Mỹ có một cụm không quân hải quân công kích chủ lực với sự có mặt của tàu sân bay "George Washington", lính thủy đánh bộ trên đảo Okinawa, lực lượng không quân và bộ binh  ở Hàn Quốc. Điều đó có nghĩa là, lực lượng quân đội Mỹ ở biển Hoa Đông khá mạnh.

Trong cuộc tranh chấp chủ quyền biển đảo Senkaky có sự hiện diện của lực lượng vũ trang Mỹ, bao gồm cả cụm không quân hải quân công kích chủ lực, lực lượng quân đội Mỹ này  nếu xảy ra nguy cơ xung đột có thể trong một thời gian rất ngắn, có thể được tính bằng giờ sẽ có mặt trong khu vực xung đột và sẵn sàng tham chiến. Cán cân lực lượng hoàn toàn bất lợi cho Trung Quốc, nên trong mọi tham vọng của Bắc Kinh, để xảy ra một cuộc xung đột vũ trang là điều hoàn toàn không mong muốn. Để có thể đe dọa và gây nguy hiểm bằng chiến tranh nhỏ có giới hạn cho Nhật Bản, Trung Quốc phải đi thêm một đoạn đường rất dài.

Từ góc độ chiến lược – chiến thuật, có thể thấy. Lực lượng tác chiến không hải của PLA trên thực tế thực sự hùng mạnh, những đánh giá của các chuyên gia quân sự trên thực tế vẫn chưa thể nêu rõ được khả năng có xảy ra một cuộc xung đột vũ trang lớn hay không và kết quả của nó. Một trong những yếu tố quan trọng là vấn đề thời gian – cuộc chiến xảy ra thời điểm nào, thời gian dài hay ngăn, tại thời điểm đó tình hình kinh thế và an ninh thế giới ở cấp độ nào?

Nhưng nếu lấy quan điểm của chính người Trung Quốc “ chiến tranh là phương tiện để thực hiện mục đích chính trị..” thì rõ ràng, khả năng xảy ra một cuộc xung đột “ Trung – Nhật” trên quần đảo Senkaky còn phụ thuộc vào Học thuyết quân sự hải dương của Trung Quốc và chiến lược Phòng thủ ngoài khơi xa của PLAN. Để đánh giá chi tiết hơn những hành động có tính khiêu khích của lực lượng không quân – hải quân Trung Quốc trong những năm gần đây, tính từ Sensaky đến các đảo của Malaisia cũng như ý nghĩa của nó, cần có nhưng phân tích cụ thể hơn về cuộc chiến tranh dành lợi ích Bắc Kinh mong muốn đạt tới trong giai đoạn đầu của thế kỷ 21.

Trịnh Thái Bằng