Trong nhiệm kỳ 2010-2015, nhiều chỉ tiêu kinh tế của thành phố đã đạt cao, về trước kế hoạch từ 1 đến 3 năm.

Qua 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, Nghị quyết Đại hội XIV  Đảng bộ thành phố, trong bối cảnh thuận lợi, khó khăn, thách thức đan xen; trong đó có những khó khăn, thách thức gay gắt, vượt xa so với dự báo; song được sự lãnh đạo, giúp đỡ của Trung ương, Đảng bộ, chính quyền, quân và dân thành phố đã dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, nêu cao tinh thần đoàn kết, ý thức trách nhiệm, đạt được những kết quả quan trọng, cơ bản hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra, một số chỉ tiêu hoàn thành vượt mức và có đột phá.

1. Kinh tế thành phố từng bước vượt qua khó khăn của nửa đầu nhiệm kỳ, duy trì tốc độ tăng trưởng khá, cơ cấu chuyển dịch cơ bản theo hướng công nghiệp hóa, dịch vụ. Nhiều chỉ tiêu đạt cao, về trước kế hoạch từ 1 đến 3 năm

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) trên địa bàn thành phố đạt tốc độ tăng trưởng khá, ước tăng bình quân 8,67%/năm. Quy mô kinh tế được mở rộng, GDP năm 2015 ước gấp 1,52 lần năm 2010, GDP bình quân đầu người ước đạt 2.857 USD, gấp 1,8 lần so với năm 2010. Tỷ trọng GDP Hải Phòng trong GDP cả nước từ 2,7% năm 2010 ước tăng lên 3,5% năm 2015 (theo giá so sánh năm 2010). Tổng thu ngân sách trên địa bàn thành phố 5 năm tăng gấp 1,8 lần so với giai đoạn 2006 – 2010. Tổng vốn đầu tư trên địa bàn ước đạt trên 208 nghìn tỷ đồng, tăng bình quân 8,87%/năm, đạt kế hoạch. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng mạnh, ước đạt 7,63 tỷ USD, gấp 1,5 lần tổng vốn FDI của những năm trước.

Đã tập trung nguồn lực lớn, tạo sự phát triển đột phá về kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là hạ tầng giao thông. Đã triển khai nhiều dự án phát triển hạ tầng giao thông quy mô lớn, quan trọng, có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển của Hải Phòng và cả vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc như: Cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng; đường ô tô cao tốc Hà Nội - Hải Phòng; cầu - đường ô tô Tân Vũ - Lạch Huyện; Đặc biệt là dự án lớn cải tạo, nâng cấp khu bay Cảng Hàng không quốc tế Cát Bi.

Thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh của kinh tế thành phố đạt kết quả bước đầu quan trọng. Kinh tế dịch vụ phát triển nhanh, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu GDP, ước tăng bình quân 10,15%/năm, cao hơn tốc độ tăng GDP chung của thành phố. Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu bình quân 15,88%/năm. Dịch vụ cảng biển phát triển mạnh. Sản lượng hàng hóa qua cảng tăng bình quân 15,09%/năm, hoàn thành chỉ tiêu Đại hội XIV trước 3 năm; năm 2015 ước đạt 69 triệu tấn, tăng 179% so với năm 2010. Du lịch phát triển khá, doanh thu từ du lịch tăng hằng năm, số lượt khách du lịch ước tăng bình quân 9,46% năm, năm 2015 ước đạt khoảng 5,5 triệu lượt khách.

Một góc thành phố Hải Phòng

Ngành công nghiệp được cơ cấu lại, chú trọng phát triển theo chiều sâu; các ngành, sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, ứng dụng công nghệ cao, tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu bước đầu có sự phát triển, đạt một số kết quả. Tốc độ tăng GDP ngành công nghiệp bình quân đạt 8,7%/năm; chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp (IIP) ước tăng 10%/năm.

Nông nghiệp - thủy sản đang từng bước phát triển theo hướng nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng, chương trình xây dựng nông thôn mới được quan tâm đúng mức. Tốc độ tăng giá trị sản xuất ước đạt 2,94%/năm. Đã hình thành nhiều mô hình sản xuất mới, hiệu quả, có giá trị sản xuất cao. Kinh tế thủy sản phát triển, giá trị sản xuất ước tăng 5,8%/năm. Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới đạt nhiều kết quả tích cực. Bình quân các xã trên địa bàn thành phố đạt 14 tiêu chí, trong đó 41 xã (đạt 30%) cơ bản hoàn thành 19/19 tiêu chí Quốc gia.

Sức cạnh tranh và mức độ hội nhập của kinh tế thành phố được nâng lên. Thị trường xuất khẩu mở rộng tới 118 quốc gia và vùng lãnh thổ (năm 2010 là 75). Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được triển khai khá đồng bộ và phát huy hiệu quả rõ.

2. Đẩy mạnh phát triển và quản lý đô thị; xây dựng hệ thống hạ tầng đô thị theo hướng đồng bộ, hiện đại; công tác quản lý tài nguyên, môi trường được chú trọng, đạt nhiều kết quả tích cực.

Đề án điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng thành phố Hải Phòng đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050 được Chính phủ phê duyệt. Chất lượng quy hoạch được nâng lên, bản sắc kiến trúc đô thị Hải Phòng được coi trọng. Hệ thống hạ tầng giao thông đô thị tiếp tục được đầu tư, hoàn thiện. Hạ tầng xã hội được tập trung đầu tư. Nhiều công trình văn hóa, thể thao được đầu tư mới, tôn tạo và nâng cấp. Hệ thống cơ sở y tế công lập và ngoài công lập có bước phát triển mới. Hạ tầng công nghệ thông tin được chú trọng.

Thành phố đã xây dựng chiến lược, quản lý, khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên, khoáng sản theo hướng sử dụng tiết kiệm, chế biến sâu.
3. Đổi mới, phát triển và nâng cao chất lượng các lĩnh vực văn hóa, xã hội; bảo đảm an sinh xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội đạt kết quả khá toàn diện.

Quy mô giáo dục tiếp tục ổn định cả về cơ cấu, loại hình trường lớp. Cơ sở vật chất, thiết bị trường học được đầu tư theo hướng khang trang, hiện đại. Chất lượng giáo dục tiếp tục được duy trì và giữ vững ở tốp đầu cả nước. Hải Phòng là địa phương duy nhất 21 năm liên tục có học sinh đoạt giải quốc tế. Tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2015 ước đạt 75%, hoàn thành kế hoạch đề ra. Nhân lực chất lượng cao có sự phát triển nhất định về số lượng và chất lượng (hiện có 136.470 người có trình độ đại học, cao đẳng trở lên (đạt tỷ lệ 734 người/1 vạn dân; trong đó có khoảng 4.200 trên đại học).

Khoa học và công nghệ tiếp tục có chuyển biến. Hiện có gần 4.900 cán bộ khoa học và công nghệ). Chăm lo phát triển văn hóa, xây dựng và phát huy nhân tố con người đạt nhiều kết quả tích cực. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” tiếp tục được phát huy. Phong trào văn hóa, văn nghệ quần chúng có bước phát triển khá. Lễ hội Hoa Phượng đỏ được tổ chức thường niên. Phong trào thể thao quần chúng tiếp tục phát triển, đều khắp ở các địa phương. Công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân được quan tâm. Mạng lưới khám chữa bệnh được củng cố và mở rộng hơn. Chất lượng khám chữa bệnh được nâng lên. Thực hiện tốt công tác phòng, chống dịch bệnh. Các chương trình, kế hoạch về công tác gia đình được triển khai đồng bộ, đạt kết quả tích cực. Việc bảo đảm tiến bộ, công bằng và an sinh xã hội được cả hệ thống chính trị và nhân dân chăm lo. Đã giảm tỷ lệ hộ nghèo từ mức 6,55% năm 2010 xuống còn 1,53% năm 2015, bình quân mỗi năm trên 1%. Cơ bản hoàn thành việc giải quyết chế độ cho người có công với cách mạng.

4. Quốc phòng, an ninh được củng cố và tăng cường, an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ổn định và giữ vững. Chú trọng bảo vệ, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Chủ động và kiên quyết đấu tranh phòng, chống, làm thất bại âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch trong chiến lược “diễn biến hoà bình”, không để xảy ra bạo loạn, khủng bố, biểu tình phá rối an ninh, trật tự, kiên quyết không để hình thành tổ chức chính trị đối lập. Thực hiện tốt nhiệm vụ quốc phòng địa phương. Chủ quyền quốc gia vùng biển, đảo, hải cảng của thành phố và đất nước được tăng cường và giữ vững. Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc được duy trì.

5. Công tác xây dựng Đảng tiếp tục được đổi mới, hoàn thành toàn diện, có chất lượng các nhiệm vụ; đạt hiệu quả rõ nét trong nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của toàn Đảng bộ. Đã lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI gắn với thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị “Về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”...

Công tác tư tưởng tiếp tục được đổi mới, chủ động hơn, chất lượng và hiệu quả có chuyển biến tiến bộ. Việc tuyên truyền, quán triệt các Nghị quyết của Trung ương, Thành uỷ, các cấp ủy...tiếp tục được đổi mới, việc xây dựng và triển khai chương trình hành động thực hiện kịp thời, hiệu quả. Công tác tuyên truyền được tăng cường; việc nắm bắt tư tưởng, dư luận xã hội,,,được coi trọng. Việc định hướng tuyên truyền trên các cơ quan báo chí, hệ thống thông tin truyền thông được đổi mới; Công tác giáo dục lý luận chính trị tiếp tục được coi trọng. Các nghị quyết, chủ trương của Đảng về văn hóa-văn nghệ được triển khai thực hiện kịp thời. Chủ động từng bước đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa.

Công tác xây dựng, củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức đảng và công tác đảng viên được triển khai toàn diện, hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ đề ra. Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh; tập trung khắc phục tổ chức cơ sở đảng yếu kém. Việc nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ và quản lý đảng viên được tập trung chỉ đạo. Việc phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên được quan tâm. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ được triển khai chủ động, kịp thời, chuyển trọng tâm vào vấn đề chính trị hiện nay. Công tác cán bộ được triển khai thực hiện khá toàn diện, đóng góp thiết thực vào kết quả chung của thành phố. Đội ngũ cán bộ thành phố có bước phát triển, cơ cấu đội ngũ cán bộ hợp lý hơn, tỷ lệ cán bộ nữ, cán bộ trẻ ở một số ngành, lĩnh vực tăng lên.

Công tác kiểm tra, giám sát được tăng cường, thực hiện tốt phương châm “giám sát mở rộng, kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm”; góp phần quan trọng xây dựng tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên trong sạch, vững mạnh; tăng cường kỷ luật, kỷ cương của Đảng. Chất lượng, hiệu quả của các cuộc kiểm tra, giám sát được nâng lên. Việc xem xét, xử lý kỷ luật đảng viên và tổ chức đảng được thực hiện nghiêm túc, bảo đảm đúng nguyên tắc, quy trình, giúp cho đảng viên, tổ chức đảng nhận rõ khuyết điểm, vi phạm và có biện pháp khắc phục. Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo đã được tập trung xem xét, giải quyết bảo đảm đúng quy trình, nguyên tắc, thủ tục, công minh, chính xác.

Công tác dân vận đã tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Thành ủy, các cấp ủy đã kịp thời quán triệt, xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI “Về đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới”. Chính quyền các cấp quan tâm chỉ đạo thực hiện tốt Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; phát huy vai trò của nhân dân trong giám sát hoạt động của các cấp chính quyền và cán bộ, công chức; tham gia xây dựng chủ trương, cơ chế, chính sách, giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc. Nhiều phong trào thi đua yêu nước, mô hình “Dân vận khéo” được phát động, xây dựng và nhân rộng; tạo sự đồng thuận xã hội. Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội có nhiều đổi mới trong hoạt động. Công tác tôn giáo, dân tộc tiếp tục được các cấp, ngành, địa phương quan tâm, chú trọng...

Phương thức lãnh đạo của Thành uỷ và các cấp uỷ tiếp tục được đổi mới, tiến bộ rõ trên nhiều mặt, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng. Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng nghị quyết theo hướng chỉ ra nghị quyết đối với những nhiệm vụ lớn, mới và nội dung nghị quyết phải được xây dựng trên cơ sở tổng kết thực tiễn, bảo đảm tính khoa học, tính khả thi. Tiếp tục thực hiện xác định chủ đề hành động hằng năm, hướng trọng tâm lãnh đạo vào giải quyết khâu yếu. Công tác kiểm tra việc thực hiện nghị quyết đã được chú trọng.
6. Củng cố và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp; đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp, phòng, chống tham nhũng, lãng phí đạt được những kết quả tích cực

Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp. Hội đồng nhân dân thành phố đã có nhiều cố gắng trong công tác chuẩn bị, tổ chức, nâng cao chất lượng các kỳ họp, thể chế hóa kịp thời các chủ trương, nghị quyết của Trung ương và Thành uỷ. Uỷ ban nhân dân thành phố đã áp dụng nhiều biện pháp nhằm từng bước đổi mới công tác chỉ đạo, điều hành. Hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước các cấp bảo đảm đúng quy định, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, nỗ lực thực hiện vai trò kiến tạo nhằm khơi dậy các tiềm năng phát triển của thành phố.

Công tác cải cách hành chính trong nhiệm kỳ được quan tâm, đạt một số  tiến bộ. Đã tập trung chỉ đạo rà soát, xây dựng, công bố, công khai bộ thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân thành phố và ủy ban nhân dân các cấp và các ngành. Triển khai thực hiện cơ chế “một cửa” tại 100% các sở, ngành, ủy ban nhân các cấp; trong đó, 13/15 quận, huyện, 39/223 xã, phường, thị trấn thực hiện mô hình bộ phận “một cửa liên thông”. Công tác xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức tiếp tục được chú trọng.

Chiến lược cải cách tư pháp được tập trung chỉ đạo tạo chuyển biến rõ nét. Thực hiện tốt quy chế phối hợp giữa các cơ quan trong hoạt động tư pháp, phòng chống tội phạm, xử lý các vụ án hình sự, dân sự và xử lý tin báo tố giác tội phạm.

Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí được tăng cường. Tăng cường quản lý, chấn chỉnh, chủ động phòng ngừa vi phạm trong các lĩnh vực trọng tâm, nhạy cảm, dễ nảy sinh tiêu cực, sai phạm. Đã thành lập Ban Nội chính Thành ủy, là cơ quan tham mưu cho Thành ủy về công tác nội chính và phòng, chống tham nhũng.

7. Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội, việc phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đoàn kết toàn dân được coi trọng và đạt kết quả tích cực

Quy chế dân chủ ở cơ sở, Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” được tiếp tục triển khai thực hiện, đạt kết quả tích cực.  Việc xây dựng, mở rộng và phát huy sức mạnh khối đoàn kết toàn dân được coi trọng. Thành ủy đã ban hành các nghị quyết, chỉ thị về xây dựng giai cấp công nhân trong thời kỳ mới, phát huy vai trò của giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức, doanh nhân, người cao tuổi, phát huy những giá trị văn hóa đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo trên địa bàn thành phố.

Giai cấp công nhân thành phố có bước phát triển về số lượng, trưởng thành về chất lượng. Giai cấp nông dân phát huy vai trò chủ thể nòng cốt trong thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới. Đội ngũ trí thức phát triển tương đối nhanh về số lượng, nâng cao về chất lượng. Thế hệ trẻ thành phố tiếp tục vai trò xung kích trong tham gia phát triển kinh tế-xã hội, tình nguyện vì cộng đồng. Phụ nữ thành phố ngày càng nâng cao trình độ mọi mặt, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và phát triển thành phố; xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc. Lực lượng cựu chiến binh thành phố phát huy bản chất bộ đội Cụ Hồ, đạt nhiều kết quả nổi bật trong tham gia bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ, giúp nhau xóa đói, giảm nghèo, hiến kế và huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh. Đã chú trọng thu hút các nhân sĩ, trí thức, văn nghệ sĩ, các chuyên gia, các chức sắc tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài, người có uy tín và người tiêu biểu trong các thành phần kinh tế, cộng đồng tham gia công tác Mặt trận.

8. Công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế, mở rộng không gian kinh tế được nhận thức đúng đắn, triển khai năng động, tạo được niềm tin của các đối tác, đã thật sự là một động lực quan trọng thúc đẩy kinh tế-xã hội thành phố phát triển

Hoạt động đối ngoại của Đảng, đối ngoại  nhà nước và đối ngoại nhân dân với trọng tâm là đối ngoại kinh tế được gắn kết chặt chẽ, tạo hiệu quả rõ. Chú trọng mở rộng quan hệ hợp tác nhiều mặt, sâu sắc với các địa phương, cơ quan, doanh nghiệp của Nhật Bản, Hàn Quốc.

Công tác xúc tiến đầu tư, viện trợ ODA được đổi mới, thu hút được nhiều nguồn vốn nước ngoài. Các hoạt động hợp tác quốc tế về văn hoá, giáo dục - đào tạo, khoa học- công nghệ, y tế, thể thao phát triển có hiệu quả, đúng định hướng. Công tác về người Việt Nam ở nước ngoài, công tác ngoại giao nhân dân, các hoạt động hòa bình, đoàn kết và hữu nghị được chú trọng. Quản lý nhà nước về đối ngoại được tăng cường.

Tuy nhiên Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu chưa đạt. Kinh tế thành phố chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, lợi thế; năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh còn thấp; cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm; nhiều dự án lớn, quan trọng chậm tiến độ.

Hoạt động văn hóa còn những vấn đề bất cập. Giáo dục đào tạo còn những hạn chế, khuyết điểm, tiêu cực. Khoa học công nghệ chưa phát huy tốt vai trò là động lực phát triển kinh tế-xã hội. Công tác y tế, chăm sóc sức khoẻ nhân dân chưa đáp ứng yêu cầu. Trật tự, an toàn xã hội còn tiềm ẩn những yếu tố phức tạp; một số tệ nạn xã hội khắc phục chưa thật hiệu quả; vẫn còn nhiều vụ việc người dân khiếu kiện, tố cáo vượt cấp.

Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị còn nhiều hạn chế, vẫn còn không ít tổ chức cơ sở đảng yếu kém; một số cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, sai phạm và bị xử lý kỷ luật. Công tác cán bộ chưa ngang tầm, thiếu cán bộ tài năng, tâm huyết với Thành phố. Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị mới đạt kết quả bước đầu. Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân có lúc, có nơi còn hình thức, hiệu quả không cao.

Một số kinh nghiệm trong nhiệm kỳ 2010- 2020 được Đảng bộ Thành phố Hải Phòng chỉ ra:

Một là, phải dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực tư duy, nhạy bén nắm bắt tình hình trong nước, thế giới, sự lãnh đạo của Trung ương, các yêu cầu phát triển nhanh, bền vững của thành phố để làm cơ sở cho việc đề ra các chủ trương, nhiệm vụ của thành phố và triển khai thực hiện các nghị quyết của Trung ương.

Hai là, chủ động hội nhập quốc tế, tạo môi trường thuận lợi, niềm tin để thu hút các nguồn lực, tập trung nâng cao toàn diện khả năng cạnh tranh của thành phố; xây dựng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; phát huy cao độ nhân tố con người Hải Phòng.

Ba là, tập trung cao sự lãnh đạo, chỉ đạo, tranh thủ sự giúp đỡ của Trung ương để tận dụng các cơ hội phát triển, nhất là các cơ chế chính sách, các dự án đầu tư có tác dụng làm thay đổi cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, chọn đúng khâu đột phá, nhanh chóng tạo ra cục diện phát triển mới cho thành phố.

Bốn là, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân; sức sáng tạo của nhân dân, của đội ngũ cán bộ trong cả hệ thống chính trị là nhân tố quyết định tạo ra các chuyển biến cho thành phố.

Năm là, bổ nhiệm, bố trí, sắp xếp cán bộ, đúng người, đúng việc, phù hợp với năng lực, trình độ và phát huy được sở trường; đồng thời xây dựng cơ chế trách nhiệm đối với cá nhân và tập thể, bảo đảm dân chủ và giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong toàn Đảng bộ. Thường xuyên coi trọng, chủ động quan tâm, chăm lo, đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng, củng cố đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý ở các cấp.

PV