Trong chương trình hội nghị này, Nga và ASEAN đã bàn thảo về nhiều vấn đề chung giữa hai bên và các vấn đề toàn cầu.

Tại các phiên họp của Hội nghị diễn ra trong ngày 20/5/2016, các nhà Lãnh đạo Cấp cao ASEAN và Nga đã trao đổi về tình hình khu vực và quốc tế, kiểm điểm quan hệ Đối thoại ASEAN-Nga trong 20 năm qua và những định hướng lớn cùng các biện pháp cụ thể nhằm đưa quan hệ đối tác lên tầm cao mới. Hai bên đánh giá cao những kết quả tích cực cụ thể sau 20 năm quan hệ đối tác đối thoại, việc thực hiện Tuyên bố chung ASEAN-Nga về Quan hệ Đối tác toàn diện và tiến bộ và Kế hoạch Hành động Toàn diện giai đoạn 2005-2015. 

Về chính trị-an ninh, Nga đã tích cực tham gia vào tất cả các diễn đàn, tiến trình khu vực quan trọng do ASEAN khởi xướng và dẫn dắt, đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực. Về kinh tế, thương mại hai chiều tăng hơn 5 lần trong 10 năm qua đạt trên 20 tỷ đôla Mỹ, lượng khách du lịch Nga đến ASEAN tăng gần 20 lần lên khoảng 2,5 triệu, số khách từ ASEAN sang Nga cũng tăng đáng kể trong những năm gần đây. Các nhà Lãnh đạo cũng cho rằng còn nhiều tiềm năng và hai bên cần nỗ lực hơn nữa để đưa quan hệ hợp tác đi vào chiều sâu và mang lại lợi ích thiết thực nhất là trong các lĩnh vực ưu tiên của ASEAN và Nga có thế mạnh. Để tạo khuôn khổ và cơ sở vững chắc cho việc tăng cường hợp tác ASEAN-Nga trong thời gian tới, Hội nghị đã thông qua Tuyên bố Sochi và ghi nhận 5 văn kiện quan trọng gồm (i) Kế hoạch Hành động Toàn diện ASEAN-Nga giai đoạn 2016-2020, (ii) Báo cáo khuyến nghị chính sách của Nhóm các Nhân vật nổi tiếng ASEAN-Nga, (iii) Kế hoạch hành động ASEAN-Nga về Khoa học, Công nghệ và Đổi mới, (iv) Báo cáo tình hình thực hiện Chương trình làm việc về thương mại và đầu tư ASEAN-Nga giai đoạn 201602020, và (v) Chương trình làm việc ASEAN-Nga về hợp tác nông nghiệp và an ninh lương thực.

Trao đổi về các vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm, các nhà Lãnh đạo 2 bên nhấn mạnh tầm quan trọng và sự cần thiết của việc duy trì hòa bình, an ninh ở Châu Á- Thái Bình Dương, vai trò và đóng góp của ASEAN và Nga trong việc xử lý những thách thức về an ninh và phát triển đang đặt ra. Theo đó, ASEAN đánh giá cao vai trò của Nga và bày tỏ mong muốn Nga tiếp tục tham gia tích cực vào các cơ chế hợp tác của ASEAN, ủng hộ lập trường và vai trò trung tâm của ASEAN ở khu vực. 

Các nhà Lãnh đạo ASEAN và Nga  cũng chia sẻ quan tâm, tầm quan trọng và lợi ích chung của việc bảo đảm hòa bình, ổn định, an ninh an toàn hàng hải và hàng không ở Biển Đông đối với hòa bình và phát triển ở khu vực và thế giới; đề cao lập trường nguyên tắc của ASEAN giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên Hợp quốc về Luật biển 1982 (UNCLOS), không sử dụng và đe dọa sử dụng vũ lực, tự kiềm chế, không có các hành động làm phức tạp thêm tình hình, thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố về Ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và sớm hoàn tất bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông (COC).

Trong khuôn khổ Hội nghị, các nhà Lãnh đạo ASEAN và Nga đã tiếp các đại diện doanh nghiệp ASEAN và Nga tham dự Diễn đàn Doanh nghiệp ASEAN-Nga, gặp đại diện của Ủy ban hợp tác Á-Âu (EAEU), Tổ chức hợp tác Thượng Hải (SCO) và Ban Thư ký ASEAN về tiến trình hội nhập kết nối kinh tế Á-Âu với khu vực Đông Nam Á.

Đây là lần đầu tiên Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc trên cương vị mới tham dự một Hội nghị Cấp cao của ASEAN với đối tác là Liên Bang Nga và đã thể hiện mạnh mẽ mong muốn và vai trò trách nhiệm của Việt Nam tham gia đóng góp thúc đẩy quan hệ Đối tác toàn diện và tiến bộ ASEAN-Nga. Trong phát biểu tham luận tại Hội nghị, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đánh giá cao  sáng kiến của Tổng thống Nga Putin và ý nghĩa tổ chức Hội nghị Cấp cao Kỷ niệm ASEAN-Nga để trao đổi về phương hướng hợp tác trong bối cảnh  quốc tế và khu vực tiếp tục đan xen nhiều thuận lợi và không ít khó khăn thách thức đối với an ninh và phát triển của cả ASEAN và Nga, nhấn mạnh 2 bên có lợi ích chung và nhu cầu cần đẩy mạnh hơn nữa quan hệ đối thoại trong thời gian tới. Để thúc đẩy hợp tác 2 bên ngày càng phát triển thực chất và toàn diện hơn, Thủ tướng đã đề xuất các định hướng hợp tác lớn bao gồm (i) tăng cường hợp tác chính trị-an ninh, nhất là trong lĩnh vực an ninh biển, chống khủng bố và tội phạm xuyên quốc gia; hai bên đẩy mạnh đối thoại, phối hợp tại các diễn đàn, cơ chế an ninh do ASEAN giữ vai trò chủ đạo và đề nghị Nga ủng hộ vai trò trung tâm của ASEAN ở khu vực; (ii) phát huy tối đa tiềm năng và thế mạnh của mỗi bên thúc đẩy quan hệ kinh tế thương mại, đầu tư, năng lượng và du lịch, trong đó có việc đàm phán Hiệp định Thương mại tự do ASEAN – Nga, kết nối doanh nghiệp. Đề nghị Nga hỗ trợ Kế hoạch tổng thể về Kết nối ASEAN, Sáng kiến Hội nhập ASEAN cũng như các chương trình phát triển Tiểu vùng Mê-công. Đồng thời đề nghị Nga cùng các nước ASEAN định kỳ tổ chức triển lãm kinh tế-thương mại ASEAN – Nga tại nước Nga; và (iii) tăng cường hợp tác văn hóa-xã hội, ưu tiên phát triển giáo dục, khoa học công nghệ, giao lưu văn hóa, trao đổi sinh viên và thanh niên, ứng phó biến đổi khí hậu và phòng chống thiên tai. Thủ tướng bày tỏ tin tưởng vào triển vọng nhiều mặt của quan hệ ASEAN-Nga trên cơ sở lợi ích chung về hòa bình, an ninh và phát triển và cam kết Việt Nam sẵn sàng làm hết sức mình đóng góp vào nỗ lực chung đưa quan hệ 2 bên lên tầm cao mới.

Về vấn đề Biển Đông, Thủ tướng nhấn mạnh hòa bình, an ninh ở Biển Đông có ý nghĩa thiết yếu đối với hòa bình, an ninh khu vực và toàn cầu, do vậy cần bảo đảm an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực; giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, tôn trọng các tiến trình ngoại giao và pháp lý phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982; tuân thủ đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố ứng xử ở Biển Đông (DOC) ký năm 2002, sớm tiến tới Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC). Các nước ASEAN đã có các tuyên bố bày tỏ sự lo ngại sâu sắc, cho rằng các hành động đơn phương sẽ làm thay đổi nguyên trạng tình hình ở Biển Đông, trái với DOC cũng như luật pháp quốc tế, làm gia tăng căng thẳng, xói mòn lòng tin, đe dọa hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông.  

Thủ tướng Chính phủ nhấn mạnh yêu cầu cấp bách là các quốc gia liên quan kiềm chế, ngưng các hành động đơn phương như trên, không quân sự hóa, thúc đẩy các cuộc đối thoại và thương lượng để giải quyết tranh chấp và sớm có kết quả thực chất về xây dựng COC, tôn trọng các tiến trình ngoại giao và pháp lý quốc tế, tăng cường các biện pháp xây dựng lòng tin và ngoại giao phòng ngừa. Thủ tướng Chính phủ đánh giá cao vai trò và những đóng góp xây dựng của Nga vào hòa bình, an ninh, hợp tác ở Đông Nam Á trong nhiều năm qua và mong muốn Nga tiếp tục ủng hộ việc duy trì hòa bình, an ninh, an toàn, tự do hàng hải, hàng không và giải quyết hòa bình các tranh chấp ở Biển Đông trên cơ sở luật pháp quốc tế và các thỏa thuận khu vực.

Trong khuôn khổ chương trình làm việc, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã cùng các Lãnh đạo ASEAN và Nga gặp gỡ đại diện Liên minh kinh tế Á – Âu, Tổ chức Hợp tác Thượng Hải và Ban Thư ký ASEAN. Tại cuộc gặp này, Thủ tướng đã đề nghị Nga hỗ trợ ASEAN thực hiện Tầm nhìn 2025; tăng cường hợp tác, kết nối kinh tế, đối thoại ở các cấp về thương mại và đầu tư; chia sẻ thông tin về đối tác công – tư, đổi mới, sáng tạo và chuyển giao công nghệ; thúc đẩy kết nối trong ASEAN và giữa ASEAN với Nga.

Cùng ngày 20/5/2015, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã có các cuộc gặp song phương với Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long và Thủ tướng Malaysia Na-díp Tun Ra-dắc. Trước đó, tối 19/5, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cũng đã gặp Thủ tướng Thái Lan Pờ-ra-đút Chan-o-cha.

Tại các cuộc gặp, các vị lãnh đạo ASEAN đã chúc mừng Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và các vị Lãnh đạo Cấp cao Việt Nam về sự tín nhiệm của Nhà nước và nhân dân Việt Nam, cam kết cùng các vị Lãnh đạo Việt Nam tiếp tục mọi nỗ lực để đưa quan hệ song phương giữa Việt Nam với các nước này lên một tầm cao mới.

Thủ tướng Singapore và Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc hài lòng trước sự phát triển tốt đẹp của quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam – Singapore; năm 2015 trao đổi đoàn cấp cao và các cấp được duy trì; các cơ chế hợp tác song phương giữ vai trò quan trọng trong thúc đẩy quan hệ hai nước; kim ngạch thương mại hai chiều tăng 10%, đạt 16 tỷ Đô-la Mỹ; Singapore vẫn là nhà đầu tư hàng đầu tại Việt Nam với tổng số vốn đầu tư là 36,5 tỷ Đô la Mỹ; các khu công nghiệp Singapore tại Việt Nam ngày càng có hiệu quả; hợp tác du lịch phát triển nhanh. Thủ tướng Singapore cho rằng nhiều sản phẩm nông nghiệp, công nghiệp của Việt Nam đang thâm nhập nhanh thị trường Singapore; Singapore vẫn là điểm đến hấp dẫn của du  học sinh Việt Nam.

Tại cuộc gặp Thủ tướng Malaysia, hai bên nhất trí sớm hoàn tất và ký các hiệp định Tương trợ tư pháp, Chuyển giao người bị kết án tù, Dẫn độ, Dịch vụ, Hàng không và Giáo dục; tích cực thúc đẩy hợp tác đầu tư, thương mại; đẩy mạnh hợp tác trong lĩnh vực biển, đại dương, tăng cường chia sẻ thông tin, kinh nghiệm chống cướp biển, cứu hộ, cứu nạn; tiếp tục xem xét để sớm tiếp nhận lao động Việt Nam sang Malaysia làm việc.

Tại cuộc gặp Thủ tướng Thái Lan, hai Thủ tướng nhất trí phối hợp chỉ đạo triển khai hiệu quả các nội dung và thỏa thuận đã đạt được tại Cuộc họp nội các chung Việt Nam – Thái Lan lần thứ 3 (tháng 7/2015) và Chương trình hành động triển khai quan hệ đối tác chiến lược giai đoạn 2014 – 2018; nhấn mạnh đẩy mạnh hợp tác trong các lĩnh vực an ninh, quốc phòng, kinh tế, thương mại, đầu tư, kết nối, giao thông vận tải, du lịch, đồng thời tổ chức nhiều hoạt động thiết thực ở hai nước để kỷ niệm 40 năm quan hệ Việt Nam – Thái Lan (8/6/1976 – 8/6/2016). Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đánh giá cao sự chỉ đạo sát sao của Thủ tướng Thái Lan trong việc thúc đẩy hợp tác lao động giữa hai nước và đề nghị Thái Lan tạo điều kiện thuận lợi cho việc đăng ký lao động và mở rộng ngành nghề tuyển dụng cho lao động Việt Nam.

Về vấn đề khu vực, các vị lãnh đạo nhất trí tăng cường đoàn kết và duy trì vai trò trung tâm của ASEAN trong các vấn đề lớn liên quan đến hòa bình, an ninh, lợi ích của mỗi nước và của khu vực; khẳng định tầm quan trọng của việc bảo đảm hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông, thực hiện Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và sớm ký kết Bộ Quy tắc ứng xử (COC) cũng như giải quyết các tranh chấp trên biển dựa trên luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982

2