GS.TS Võ Khánh Vinh, Giám đốc Học viện Khoa học Xã hội đã chủ trì cuộc họp báo này.

GS.TS Võ Khánh Vinh phát biểu tại cuộc họp báo: Học viện hiện có 20 khoa, đào tạo mở rộng các ngành và chuyên ngành đào tạo TS. Từ 17 ngành cho tới ngày hôm nay có 44 ngành. Khi hợp nhất lại theo quy định mới còn 36 ngành. Như vậy chia sẻ của chủ tịch Nguyễn Xuân Thắng trên báo là đúng. 

GS.TS Võ Khánh Vinh, Giám đốc Học viện Khoa học Xã hội đã chủ trì cuộc họp báo này.

Số lượng chỉ tiêu được Bộ GD&ĐT giao cho học viện, làm căn cứ để tuyển NCS hàng năm, là 350 chỉ tiêu. 

Như vậy chỉ tiêu không phải do HV đề ra mà dựa vào khả năng của Bộ xác định. 

Học viện có 412 GS, PGS, TS đang tham dự giảng dạy và đào tạo, trong đó 19 GS, 175 PGS, còn lại là TS. Tất cả điều đó nói lên chất lượng đào tạo của HV. Như vậy số lượng chỉ tiêu (350 NCS- PV) là khiêm tốn so với nhu cầu của mọi người. Số lượng NCS 350 chỉ tiêu trong 36 chuyên ngành là quá ít.

Quy trình đào tạo: Ở HV, cơ sở xét đầu vào NCS rất cao, rất chặt chẽ và có thể chia sẻ cho các nơi đào tạo khác. HV trực tiếp cụ thể hóa rất nhiều quy định liên quan tới quy trình đào tạo, đặc biệt là đào tạo TS. Quy trình chặt chẽ và đúng niên hạn. Đây là một trong những thành công được đánh ghi nhận của HV, làm nên chất lượng đào tạo của HV. 

Phương diện pháp lý và hành chính là như vậy. Phương diện thứ hai là nội dung. Hai phương diện này được thể hiện rất rõ trong quy trình để biến thành thực tiễn triển khai thực hiện. Tất cả NCS  phải tuân thủ nghiêm ngặt. Đây là tiền đề bảo đảm chất lượng đào tạo NCS. 

PSG-TS Phạm Văn Đức, Phó chủ tịch Viện Hàn lâm Việt Nam phát biểu tại cuộc họp báo

Thứ ba, số lượng báo cáo thường xuyên với Bộ GD&ĐT. Như vậy đầu vào và đầu ra rất chặt. Có khoảng 10% luận án không đỗ, 90% còn lại thì 20% luận án quá hạn và phải gia hạn. Còn lại là luận án đúng hạn.

Số lượng TS từ khi ra trường đến nay là 784. Học viện đào tạo giảng viên, giáo viên cho các trường ĐH lớn. Các trường ĐH hiện nay GV thiếu trình độ TS và họ đã chọn HV để học và đào tạo. HV đã đào tạo cán bộ có trình độ cao cho Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ. 

Một số ngành số lượng NCS cực ít, một người cũng đào tạo, ví dụ như Hán Nôm, Tôn giáo học…Những ngành nghề này có ý nghĩa rất lớn cho XH.

Vấn đề tài chính thực hiện theo đúng thông tư quy định của BTC, thời điểm hiện nay mỗi TS thu học phí là 15, 250 triệu đồng. Học viên không có bất cứ thắc mắc gì. Có quy định ngặt nghèo là những ai chưa thực hiện đúng nghĩa vụ tài chính sẽ không được bảo vệ luận án. 

Toàn cảnh họp báo tại Học viện Khoa học xã hội

Thầy Nguyễn Văn Hiệp - Viện trưởng Viện Ngôn ngữ học Việt Nam: Năm 2009 có hai đợt tuyển sinh trong khoa ngôn ngữ, tuyển 17, bảo vệ 12, trả về vĩnh viễn 4 trường hợp. 

Năm 2010, tuyển sinh 20, bảo vệ đúng hạn 11, quá hạn 7, trả về vĩnh viễn 2.

Một loạt vấn đề liên quan tới hai đề tài: Hành vi Nịnh trong tiếng Việt do PSG.TS Phạm Hữu Việt hướng dẫn. Quan sát từ góc độ ngôn ngữ học, đây là luận án có ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong giao tiếp. 

Quy trình bảo vệ chặt chẽ, hai thành viên độc lập ngoài HV, hai thành viên trong HV, và thầy Hiệp là chủ tịch Hội đồng. Trong Hội đồng luận án có GS Bùi Nguyên Toán, Lê Quang Khiêm, Nguyễn Hữu Đức. Đây là một luận án khá tốt và đang khuyến khích viết thành sách. Nếu các bạn nghi ngờ về chất lượng xin vào HV tìm và đọc.

Thầy Vũ Dũng Viện trưởng Viện tâm lý học: Luận án: Đặc điểm giao tiếp với dân của Chủ tịch UBND xã, đây là một đề tài tốt có ý nghĩa và lý luận rất tốt. Về mặt lý luận, giao tiếp rất quan trọng với con người, không có giao tiếp không có con người và không có nhân cách. Vấn đề nội dung của đề tài là một vấn đề rất ít được nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu bổ sung được các cấp hội đồng đánh giá có tính thực tiễn lớn. 

Nước ta 11.164 đơn vị hành chính cấp xã tính đến tháng 5/2015. Tỉnh nhiều là Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Nội. Đồng nghĩa với có 11.164 chủ tịch xã. Vậy có đáng nghiên cứu hay không? Nghiên cứu có ý nghĩa không?

Xã là cấp chính quyền cuối cùng và gần dân nhất. Xã là nơi triển khai tất cả chủ trương, chính sách tới người dân. Trong cấp xã, chủ tịch là một trong những cán bộ hết sức quan trọng, là người đứng đầu xã và chủ tịch triển khai chủ trương chính sách và hiểu được nhu cầu, băn khoăn của người dân. Tất cả đều phải qua giao tiếp với dân. 

Trong suy nghĩ của nhiều người của chúng ta hiện nay, luận án tiến sĩ là gì đó to tát và lớn lao. Thực tế đều luận án những vấn đề hết sức cụ thể, thiết thực và gắn bó thực tiễn. 

Ví dụ có luận án tiến sĩ: Nghiên cứu hành vi viết chữ trong nhà vệ sinh; hành vi nhổ nước bọt ngoài đường…. Đây luận án những đề tài có ý nghĩa rất lớn và mang giá trị thực tế rất cao. 

GS Nguyễn Quang Uẩn là một trong 4 tứ trụ của ngành Tâm lý học Việt Nam. Không thể có một luận án vớ vẩn và một tên đề tài không có ý nghĩa.

Phóng viên hỏi: “Quy trình đào tạo tiến sĩ là nghiêm ngặt nhưng trong quá trình thực hiện vẫn có hiện tượng du di cho nhau. Học viện làm thế nào để kiểm soát?”.

Câu hỏi thứ hai được đặt ra là “Điều đáng quan tâm là không phải đào tạo bao nhiêu TS trong bao nhiêu thời gian, mà chất lượng như thế nào? Với số lượng chỉ tiêu lớn như thế  người hướng dẫn có bị quá tải không vì còn hướng dẫn cả thạc sĩ, cử nhân, hướng dẫn ở học viện khác. Học viện có chế tài nào quản lý việc GS, PGS hướng dẫn vượt khung và quá tải như thế vì ảnh hưởng tới chất lượng luận án?” 

GS.TS Nguyễn Khánh Vinh - Giám đốc Học viện Khoa học Xã hội: Luận án có chất lượng hay không? Để có một đề tài phải qua 8 bước rất nghiêm ngặt như: Thi đầu vào; Hội đồng xác định tên đề tài; Hội đồng góp ý đề cương chi tiết; Hội đồng đánh giá các chuyên đề tiến sĩ; Hội đồng tư vấn, góp ý cho luận án; Hội đồng đánh giá luận án cấp cơ sở: 2 người trong HV và 4 người ở ngoài…

Không có du di, quy trình khi bảo vệ cấp cơ sở là quy trình phản biện kín. Đây là quy trình không thể can thiệp được. HV được đánh giá cao trong khâu phản biện kín, tuyệt đối bí mật và không có bất cứ điều tiếng gì. 

Thứ hai, trước khi bảo vệ cấp học viện, tất cả luận án được đưa lên web để cả xã hội đưa ra đánh giá, sàng lọc và được bình luận. Trước 10 ngày bảo vệ, công bố trên báo Nhân dân để mọi người đến tham dự và đánh giá. 

Chưa có chỗ nào sử dụng kết quả đào tạo đưa vào nghiên cứu nhiều như ở HV Khoa học xã hội. Số lượng huy động tham gia giảng dạy luận án gần 2000 giảng viên. Huy động tiềm năng chất xám của xã hội đến đào tạo tại HV Khoa học xã hội. Luận án nói lên chất lượng đào tạo của HV. 

Tất cả luận án sau khi bảo vệ, Bộ Giáo dục và đào tạo chọn ngẫu nhiên 10% để thẩm định và kiểm tra luận án. Sắp tới sẽ mua phần mềm để giám định và có thể phát hiện được những trường hợp gian lận. 

Hiện học viện có 412 giảng viên là GS, PGS, TS của Viện Hàn lâm. Theo quy định, 1 GS hướng dẫn độc lập; hai tiến sĩ hướng dẫn NCS, phải chỉ rõ người nào là hướng dẫn 1, người nào là hướng dẫn 2. Học viện tuân thủ triệt để. Học viện còn kỹ đến mức, 2 tiến sĩ phải cùng GS hướng dẫn NCS.

NCS phải nộp một bản tại Thư viện Quốc gia và thư viện của Học viện. 

Học viện có triết lý rõ ràng: Chất lượng, Thân thiện, Phát triển. Mỗi cán bộ học viện ai cũng thuộc và nằm lòng triết lý này. Phấn đấu ngang khu vực đến năm 2020. 

Phóng viên: Thưa ông, con số 350 NCS nhiều hay ít? 

GS Vinh: Con số này tầm dưới trung bình, chiến lược phát triển đến năm 2020, con số này nằm khoảng 450-500. Khi đó đủ tầm ổn định và phát triển tiếp ở tầm cao hơn. Nếu không đủ số lượng làm sao có chất lượng. Có số lượng để sàng lọc để phát triển và có kinh phí để hoạt động. Nếu như muốn nâng cao chất lượng đào tạo phải có kinh phí để đầu tư và trang thiết bị, giảng viên, trang thiết bị… 

Hiện nay Học viện đang suy nghĩ và xin ý kiến viện Hàn lâm có khả năng thu cao hơn để đảm bảo chất lượng cao. Đề án phải thông qua rất nhiều quy trình. Các trường khác đào tạo nhiều cấp bậc, nhưng chúng tôi có đặc thù, chỉ đào tạo hai bậc, số lượng rất ít, việc trang trải khó khăn. 

Từ khi thành lập là một cơ sở khang trang, có nhiều trang thiết bị hiện đại. Không quan tâm tới thầy, học viên thì không bao giờ có chất lượng đào tạo tốt nhất. 

Trước thông tin số liệu nghiên cứu được công bố trên Web of Science ngày 21-4-2016 nêu: “Viện hàn lâm Khoa học xã hội VN có 380 TS, GS, PGS trong năm 2015 chỉ công bố 3 bài báo ISI. Cũng năm 2015 Viện hàn lâm Khoa học xã hội VN chỉ công bố 260 bài báo quốc tế các loại, chiếm 1,15% so với tổng số bài báo quốc tế của VN. Trong khi tỉ lệ này của Viện Khoa học & công nghệ VN là 19,32%”, Bà Trần Thị An - Trưởng ban quản lý khoa học - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội VN đính chính: Viện tham gia nhiều Hội thảo quốc tế trong và ngoài nước. Các bài đăng tạp chí đăng quốc tế của Viện Hàn lâm là khoảng 400 trong vài năm vừa rồi.

Còn GS.TS Vũ Dũng thanh minh, bài báo về Khoa học tự nhiên công bố quốc tế sẽ dễ hơn Khoa học xã hội.

Trước lo ngại về chất lượng của TS sẽ bị sụt giảm khi đào tạo quá nhiều như thế, GS.TS Võ Khánh Vinh cho hay: Hiện nay số lượng TS thiếu hụt rất nhiều. Không phải ngẫu nhiên hiện nay các trường tăng cường đào tạo. 

Có một số lĩnh vực rất mới ở VN, những nơi khác không đào tạo mà HV đã đào tạo, ví dụ ngành Chính sách công.

Gần như 100% đi học đều là các cán bộ đã có vị trí trong các lĩnh vực. Như vậy không phải giải quyết đầu ra như đại học mà nâng cao trình độ, chất lượng để họ cống hiến cho XH, làm cho vị thế của Viện Hàn lâm cao lên. Phải cùng nhau tôn vinh lĩnh vực KHXH lên.

Tiến Dũng