Hướng đến hợp tác khu vực nhằm bảo vệ môi trường ở Biển Đông

Minh Thư

Theo chuyên gia, một vấn đề chiến lược ít được mọi người nhắc đến là sự xuống cấp nhanh chóng của các nguồn tài nguyên và môi trường biển, điều này đe dọa cuộc sống của hơn 600 triệu người dân phụ thuộc trực tiếp vào các nguồn tài nguyên ở Biển Đông.

Tại hội thảo "Hướng tới những vùng biển mở và tự do ở châu Á: Vai trò của Luật quốc tế trong việc duy trì trật tự trên biển" các học giả đã bàn tới việc phát triển bền vững và các nguồn tài nguyên trên biển, trong đó nhấn mạnh vai trò của luật pháp quốc tế nhằm bảo vệ môi trường biển, tìm ra mối tương quan với các sáng kiến kinh tế xanh.

Về vấn đề này, TS Hà Anh Tuấn, Viện Biển Đông, Học viện Ngoại giao có đề xuất một khuôn khổ hợp tác khu vực về bảo vệ môi trường ở Biển Đông.

Các chuyên gia quốc tế tham dự hội thảo "Hướng tới những vùng biển mở và tự do ở châu Á: Vai trò của Luật quốc tế trong việc duy trì trật tự trên biển".

Ông cho rằng, tầm quan trọng của Biển Đông là không thể bàn cãi, xét về vị trí chiến lược, với những tuyến giao thương biển tấp nập bậc nhất trên thế giới. Trong những thập kỷ qua, Biển Đông được xem là một điểm xung đột tiềm tàng ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương bởi các tranh chấp lãnh thổ và tranh chấp biển phức tạp giữa các quốc gia khu vực. Tuy nhiên, một vấn đề chiến lược ít được mọi người nhắc đến là sự xuống cấp nhanh chóng của các nguồn tài nguyên và môi trường biển ở khu vực.

Theo TS Hà Anh Tuấn, xu hướng này không chỉ đe dọa cuộc sống của hơn 600 triệu người dân phụ thuộc trực tiếp vào các nguồn tài nguyên biển ở Biển Đông mà còn đặt ra những thách thức đáng kể đối với mục tiêu phát triển bền vững của cộng đồng quốc tế. Trong nhiều thập kỷ qua, các khuôn khổ luật pháp, chính trị về bảo vệ môi trường biển ở cấp độ khu vực và quốc tế đã được củng cố nhưng chưa chứng minh được tính hiệu quả giúp duy trì các nguồn tài nguyên và môi trường biển ở Biển Đông.

Song, ông cho rằng, mặc dù có những tranh chấp lãnh thổ và tranh chấp biển chồng lấn nhưng các nước trong khu vực vẫn có thể hướng tới một kịch bản đôi bên cùng có lợi bằng việc hợp tác để bảo vệ hệ sinh thái và môi trường biển ở Biển Đông.

Cố vấn pháp lý, Văn phòng đối ngoại và thịnh vượng chung (FCO), ông Clive Dow cho hay, Công ước Luật Biển đóng vai trò là một khung pháp lý cao cấp giúp phát triển các nền kinh tế biển đang phát triển, nhờ có các quy định đầy tham vọng của Công ước này về khía cạnh môi trường, xã hội và kinh tế của quản trị đại dương. Ông ủng hộ lập luận rằng việc đàm phán lại các điều khoản hiện tại của Công ước trong khi thừa nhận giá trị tiềm năng của các sáng kiến mang tính bổ sung như tiến trình của Liên Hợp quốc hướng tới một thỏa thuận pháp lý về việc bảo tồn và duy trì đa dạng sinh học trong các khu vực bên ngoài quyền tài phán quốc gia là không khả thi và không thỏa đáng.

Ông Clive Dow còn khuyến nghị rằng các quốc gia nên tái tập trung nỗ lực để thống nhất các đường biên giới trên biển, áp dụng tiêu chuẩn điều chỉnh và tăng cường hợp tác thực chất trong các lĩnh vực trọng yếu, bao gồm cả việc chia sẻ dữ liệu khoa học, tình báo và hành pháp.

Riêng với vấn đề Biển Đông, tiềm năng hợp tác giữa ASEAN và các đối tác nhằm duy trì trật tự trên biển dựa trên luật pháp quốc tế là rất quan trọng.

Đồng quan điểm này, TS Lê Đình Tĩnh, Viện Biển Đông, Học viện Ngoại giao nhấn mạnh: "Tương lai của UNCLOS (khoản IX), các quy tắc trên biển khác (SOLAS, MARPOL, SAR, SUA, TOC 2000, OPRC 1990, OPRC-HNS Protocol 2000...) và các phản ứng trong khu vực, khả năng về Bộ Quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông có tính ràng buộc hợp pháp và hiệu quả trong tương lai gần; "cuộc cạnh tranh thế kỷ" và luật chiến thắng; độ nặng của các bên gồm Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ, Anh, Liên minh châu Âu... và tính trung tâm của ASEAN trong kiến trúc an ninh đang định hình niềm hy vọng về trật tự trên biển thịnh vượng, an ninh, ổn định và hòa bình. Một bối cảnh rộng lớn hơn sẽ yêu cầu một kiến trúc an ninh khu vực quan trọng có thiết lập luật lệ và quy chuẩn cho những hành vi tiêu chuẩn. Từ đó, các thể chế như ASEAN và các cơ chế liên quan như ARF, EAS, AFM và EAFM mới có thể đóng vai trò quan trọng".

cùng chuyên mục
Kéo xuống để xem tiếp nội dung
Xem thêm trên infonet