Bộ Tài nguyên Môi trường cho biết, chất lượng nước biển tại 19 bãi tắm thuộc 4 tỉnh từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên Huế đến nay tất cả các thông số quan trắc đều nằm trong giới hạn cho phép, đảm bảo đáp ứng yêu cầu đối với vùng bãi tắm, thể thao dưới nước.

Về kết quả điều tra, đánh giá mức độ, phạm vi ô nhiễm môi trường biển do sự cố môi trường gây ra tại 4 tỉnh ven biển miền Trung, Bộ Tài nguyên và Môi trường (Bộ TN&MT) cho biết, chương trình đánh giá, xác định mức độ, phạm vi ô nhiễm môi trường và suy thoái hệ sinh thái biểndo sự cố môi trường được tiến hành từ tháng 6 đến ngày 16/8/2016 trên phạm vi vùng biển 4 tỉnh từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên Huế.

Kết quả quan trắc, đánh giá đã được thông qua tại Hội đồng thẩm định do Bộ Tài nguyên và Môi trường thành lập với sự tham gia của các chuyên gia,nhà khoa học về các lĩnh vực: môi trường biển, sinh học biển, thủy văn, hải dương học, địa hóa, hóa học,… và đại diện các Bộ, ngành liên quan; tiếp thu ý kiến phản biện của một số chuyên gia trong nước và quốc tế.

Kết quả đến thời điểm hiện nay như sau:

Diễn biến chất lượng nước biển

Trên cơ sở kết quả phân tích của 1.080 mẫu (tháng 5), 331 mẫu (tháng 6) và 68 mẫu kiểm chứng (tháng 8), so sánh, đối chiếu với QCVN 10-MT:2015/BTNMT về chất lượng nước biển cho thấy diễn biến chất lượng nước biển về cơ bản, các thông số lý hóa, dinh dưỡng, kim loại nặng, nhóm hợp chất hữu cơ và tổng Coliformđều nằm trong giới hạn cho phép.

Về giá trị các thông số sắt, tổng phenol và xyanua (là nguyên nhân chính gây sự cố môi trường) biến động như sau: Đối với sắt, kết quả quan trắc tháng 5/2016, có 3,8% số mẫu vượt giới hạn cho phép, tập trung chủ yếu ở Hà Tĩnh và Quảng Bình, giá trị cao nhất quan trắc được ở bãi tắm Kỳ Ninh (Hà Tĩnh) là 0,9 mg/l. Mức độ ô nhiễm cao nhất ở Hà Tĩnh và giảm dần vào đến Thừa Thiên Huế.

Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết, chất lượng nước biển tại 19 bãi tắm thuộc bốn tỉnh từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên Huế đến nay đảm bảo đáp ứng yêu cầu đối với vùng bãi tắm, thể thao dưới nước.

Kết quả quan trắc tháng 6/2016, chỉ còn 1,8% số mẫu vượt giới hạn cho phép, tuy nhiên giá trị vượt không nhiều và chủ yếu là mẫu tầng đáy. Các mẫu vượt giới hạn tập trung ở vùng biển Quảng Bình và Thừa Thiên Huế.

Như vậy, hàm lượng sắt trong nước biển đã giảm đi đáng kể, số lượng mẫu có hàm lượng vượt giới hạn cho phép cũng đã giảm xuống.

Hàm lượng xyanua trong nước tháng 5/2016 giao động từ 0,002 – 0,1 mg/l, lớn hơn nhiều so với tháng 6/2016 (giá trị cao nhất là 0,002 mg/l) và đều nằm trong ngưỡng cho phép của QCVN.

Riêng thông số tổng phenol trong nước biển, trong tháng 5/2016 hầu như không phát hiện được hoặc có giá trị thấp (2-10 mg/l).

Tuy nhiên, đến tháng 6/2016 hàm lượng tổng phenol trong nước có tăng lên và có 2,7% số mẫu vượt giới hạn cho phép, chủ yếu là mẫu tầng đáy. Điều này có thể giải thích do cơ chế nhả hấp phụ phenol từ dạng phức hỗn hợp dưới dạng hệ keo sắt và từ trầm tích đáy vào nước biển. Đến thời điểm hiện nay (theo kết quả quan trắc kiểm chứng trong tháng 8/2016), hàm lượng tổng phenol trong nước biển đã giảm đến giá trị nhỏ hơn giới hạn cho phép.

Tại các khu vực cách bờ 1,5 km thuộc Sơn Dương - Hà Tĩnh (diện tích khoảng 300 km2), cửa Nhật Lệ - Quảng Bình (diện tích khoảng 330 km2), hòn Sơn Chà - Thừa Thiên - Huế (diện tích khoảng 160 km2), do chịu tác động của dòng xoáy cục bộ, có một số thông số cao hơn so với các khu vực khác, nhưng vẫn nằm tronggiới hạn cho phép, cần tiếp tục được giám sát và quan trắc thường xuyên.

Về chất lượng nước biển tại 19 bãi tắm thuộc bốn tỉnh từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên Huế (gồm Hà Tĩnh: Xuân Thành, Xuân Hải, Thạch Hải, Thiên Cầm, Kỳ Xuân, Kỳ Phú, Kỳ Ninh, Mũi Đao; Quảng Bình: Vũng Chùa, Đá Nhảy, Nhật Lệ, Hải Ninh; Quảng Trị: Mũi Si, Gio Hải, Mỹ Thuỷ; Thừa Thiên-Huế: Quảng Ngạn, Thuận An, Cảnh Dương, Lăng Cô kết quả giám sát liên tục của các địa phương theo chỉ đạo của Bộ Tài nguyên và Môi trường từ đầu tháng 5/2016 đến nay cho thấy tất cả các thông số quan trắc đều nằm trong giới hạn cho phép của QCVN 10-MT:2015/BTNMT - đảm bảo đáp ứng yêu cầu đối với vùng bãi tắm, thể thao dưới nước.

Diễn biến chất lượng trầm tích biển, về cơ bản các thông số đều có giá trị nằm trong giới hạn. Hàm lượng tổng phenol và xyanua (không được quy định trong QCVN 43:2012/BTNMT) có xu hướng giảm rõ rệt theo thời gian. Tại các khu vực cách bờ 1,5 km thuộc Sơn Dương - Hà Tĩnh (diện tích khoảng 300 km2), cửa Nhật Lệ - Quảng Bình (diện tích khoảng 330 km2), hòn Sơn Chà - Thừa Thiên - Huế (diện tích khoảng 160 km2), do chịu tác động của dòng xoáy cục bộ, có một số thông số môi trường cao hơn so với các khu vực khác, nhưng vẫn nằm trong giới hạn cho phép, cần tiếp tục được giám sát và quan trắc thường xuyên.

Việc đánh giá màng bám hệ keo sắt hấp phụ các độc tố phenol, xyanua… được thực hiện tại 9 khu vực có rạn san hô và các dạng nền đáy khác trong vùng biển 4 tỉnh từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên - Huế với tổng cộng 63 điểm khảo sát.

Hàm lượng phenol trong màng bám hệ keo sắt ở 9 khu vực được khảo sát đã giảm mạnh trong giai đoạn tháng 6 và 7/2016, giao động trong khoảng 0,32 – 1,75 ppm. Điều này cho thấy, phenol trong màng bám hệ keo sắt đã được nhả hấp thụ vào nước. Nhiều nơi hàm lượng phenol đã giảm trên 90% so với tháng 4 và 5/2016 (hòn Sơn Dương, Chân Mây, Sơn Chà, Hải Vân).

Đến thời điểm khảo sát tháng 6 và tháng 7/2016, hàm lượng phenol trong màng bám hệ keo sắt trên các rạn san hô khu vực Hà Tĩnh, Quảng Bình vẫn cao hơn so với khu vực Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế. Khu vực Cồn Cỏ - Quảng Trị, do nằm cách xa đất liền (cách bờ 27 km), nên hàm lượng phenol có giá trị thấp nhất (nhỏ hơn 0,01ppm).

Diễn biến các hệ sinh thái: Chương trình khảo sát, đánh giá các hệ sinh thái thực hiện với mục tiêu đánh giá hiện trạng, biến động các hệ sinh thái biển ven bờ và nguồn lợi thủy sản cũng như khả năng phục hồi sau sự cố môi trường. Kết quả phân tích của 3.156 mẫu vật được thu thập thuộc các nhóm sinh vật: sinh vật phù du, động vật đáy, san hô, cá biển, thực vật ngập mặn và rong cỏ biển cùng với các hình ảnh và video clip quay dưới nước cho thấy:

Trong tháng 4 và 5/2016, các rạn san hô là đối tượng bị ảnh hưởng mạnh nhất trong các hệ sinh thái biển, 100% các rạn san hô trong khu vực khảo sát đều có dấu hiệu bị tẩy trắng, nhóm san hô cành hầu hết bị chết hàng loạt. Điển hình là các khu vực rạn: Hòn Sơn Dương - Hà Tĩnh (điểm đầu), tỷ lệ san hô chết cao nhất khoảng 90%, Hòn Nồm (Quảng Bình) và Hải Vân, Sơn Chà – Thừa Thiên Huế (điểm cuối), tỷ lệ san hô bị suy giảm là 66,7%. Sinh vật trên rạn san hô còn rất nghèo nàn, mật độ cá rất thấp, thấp nhất là Hòn Sơn Dương, Hòn Nồm. Rải rác có bắt gặp các loài cá kinh tế chết trong các hang, hốc san hô.

Đến giai đoạn tháng 6 và 7/2016, không còn xảy ra hiện tượng san hô bị tẩy trắng. Trên rạn san hô đã thấy hiện tượng san hô phục hồi tự nhiên từ những tập đoàn đã bị chết từng phần và ấu trùng san hô bắt đầu định cư và phát triển trên nền đáy rạn (rạn san hô khu vực Hòn Nồm, Hải Vân, Sơn Chà).

Khu vực đảo Hòn La vẫn còn điểm san hô phát triển khá tốt. Cá kích thước nhỏ và các động vật đáy cỡ lớn khác trên các rạn san hô đã có dấu hiệu phục hồi tích cực với mật độ cao hơn hẳn giai đoạn trước.

Bộ TN&MT kết luận:

1. Quan trắc đánh giá hiện trạng, diễn biến và mức độ ô nhiễm của môi trường biển và các hệ sinh thái biển và ven biển 4 tỉnh miền Trung đã áp dụng các quy trình, phương pháp trên cơ sở khoa học, đúng theo quy định của Việt Nam và phù hợp quốc tế.

2. Về chất lượng môi trường và hệ sinh thái:

a) Chất lượng môi trường nước biển và trầm tích biển tại các khu vực được quan trắc đã nằm trong giới hạn quy định của QCVN 10-MT:2015/BTNMT, đạt quy chuẩn đối với vùng bãi tắm, thể thao dưới nước, nuôi trồng thủy sản và bảo tồn thủy sinh.

b) Tại các khu vực cách bờ 1,5 km thuộc Sơn Dương - Hà Tĩnh (diện tích khoảng 300 km2), cửa Nhật Lệ - Quảng Bình (diện tích khoảng 330 km2), hòn Sơn Chà - Thừa Thiên - Huế (diện tích khoảng 160 km2), do chịu tác động của dòng xoáy cục bộ, có một số thông số môi trường cao hơn so với các khu vực khác, nhưng vẫn nằm trong giới hạn cho phép, cần tiếp tục được quan trắc và giám sát chặt chẽ, thường xuyên.

c) Với sự kiểm soát chặt chẽ các nguồn phát thải từ Công ty TNHH Hưng nghiệp Formosa Hà Tĩnh và do cơ chế làm sạch tự nhiên của môi trường, hàm lượng các chất ô nhiễm từ sự cố môi trường đang có xu hướng giảm theo thời gian.

d) Hệ sinh thái rạn san hô, cỏ biển và nguồn lợi hải sản ở khu vực sau những tác động của sự cố môi trường bị suy thoái mạnh cả về đa dạng sinh học và quy mô, nay đã bắt đầu có dấu hiệu hồi phục tích cực.

3. Về chất lượng hải sản đánh bắt: Theo số liệu giám sát của Bộ Y tế, từ 28/4/2016 đến 8/8/2016, kết quả kiểm nghiệm đánh giá mức độ an toàn của các mẫu hải sản lấy tại 4 tỉnh miền Trung cho thấy: hàm lượng một số chất ô nhiễm trong hải sản đã giảm dần theo thời gian. Trong thời gian tới, Bộ Y tế sẽ phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện giám sát hải sản đánh bắt tại các vùng biển an toàn đã được Bộ Tài nguyên Môi trường công bố.

Để tiếp tục theo dõi, đánh giá diễn biến chất lượng môi trường biển ven bờ khu vực miền Trung, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ tiếp tục các hoạt động quan trắc, giám sát môi trường biển, đặc biệt giám sát chặt chẽ nguồn phát thải từ Công ty TNHH Hưng nghiệp Formosa Hà Tĩnh, kết nối dữ liệu, xây dựng hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu và các ứng dụng công nghệ hiện đại trong giám sát, cảnh báo ô nhiễm môi trường biển.

Sự tham gia của các cấp các ngành cũng như cộng đồng dân cư trong việc giám sát các nguồn thải xả ra môi trường biển, nâng cao chất lượng môi trường cũng cần được tăng cường nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương ven biển bốn tỉnh miền Trung.

Nguyễn Lê