Tổ hợp tên lửa phòng thủ bờ biển Ball (phiên bản xuất khẩu là Bal-E) được thiết kế để kiểm soát các vùng biển chủ quyền và eo biển, bảo vệ các căn cứ hải quân, các mục tiêu và hạ tầng trên bờ, bảo vệ bờ biển (trải dài đến 400km) trên những hướng đối phương có thể đổ bộ.

Bal-E có khả năng cơ động cao, hỏa lực mạnh và độ chính xác cao, có thể tác chiến trong điều kiện thời tiết tốt hoặc phức tạp, cả ngày và  đêm, với khả năng tự dẫn hoàn toàn sau khi phóng trong điều kiện có sự đối kháng hoả lực và vô tuyến điện tử của đối phương.

Hệ thống tên lửa bờ biển Bal

Hệ thống được thiết kế theo yêu cầu của Hải quân Nga có sự cộng tác của hơn 10 xí nghiệp (mà đứng đầu là Cty cổ phần ОАО "Phòng thiết kế chế tạo máy" thành phố Moscow), Cty cổ phần "Tập đoàn tên lửa chiến lược" thành phố Korolev).

Phát triển tổ hợp tên lửa "Bal-E" có sự tham gia tích cực của đơn vị phát triển "Uran-E". Những kinh nhiệm đã có khi phát triển "Uran-E" được khai thác triệt để, nó làm  giảm rất nhiều thời gian nghiên cứu, giúp thống nhất chuẩn hóa rất nhiều hệ thống trong tổ hợp tên lửa "Bal-E".

Nhà sản xuất chính của tổ hợp tên lửa "Bal-E" là: nhà máy "Typhoon - Cơn lốc". Tổ hợp tên lửa bờ biển chống hạm "Bal-E" đã thành công khi vượt qua cuộc thử nhiệm quốc gia năm 2004 và đưa vào trang bị trong quân đội Nga năm 2008.

Hệ thống phòng thủ tên lửa bờ biển Bal cơ động (dựa trên nền tảng MAZ 7930), bao gồm:

- 2 xe chỉ huy - kiểm soát hỏa lực - liên lạc SKPUS

- 4 xe phóng tự hành với tên lửa diệt hạm Kh-35E (3M-24E) (thông thường cơ số 8 đạn/xe)

- 4 xe vận chuyển - nạp đạn nhằm chuẩn bị cho loạt bắn tiếp theo.

Xe chỉ huy SKPUS của tổ hợp tên lửa Bal-E có chức năng điều khiển tập trung hóa, làm nhiệm vụ trinh sát mục tiêu, chỉ thị mục tiêu và phân phối tối ưu mục tiêu giữa các xe SPU. Các kênh radar phát hiện chủ động và thụ động chính xác cao của Bal-E cho phép phát hiện mục tiêu một cách linh hoạt, kể cả các mục tiêu bí mật (tàng hình).

Xe phóng và xe vận chuyển - nạp đạn có thể được đặt trong các vị trí cất giấu sâu trong đất liền, cách xa bờ biển. Nhờ có các vị trí quân sự bí mật và có các vật cản nhân tạo hoặc tự nhiên theo hướng bắn không hạn chế khả năng sẵn sàng chiến đấu của tổ hợp.

Phương thức bắn có thể là phóng đơn từng quả một hoặc phóng loạt đạn tên lửa từ bất kì xe phóng nào. Xe thông tin liên lạc đặc chủng tiếp nhận chỉ thị từ các sở chỉ huy cấp trên và phân mục tiêu từ các thiết bị trinh sát/nhận dạng mục tiêu.

1 loạt phóng tối đa của tổ hợp gồm 32 tên lửa. Các xe vận chuyển - nạp đạn giúp cho việc chuẩn bị cho loạt bắn tiếp theo chỉ kéo dài từ 30-40 phút. Hệ thống kiểm soát hỏa lực của tổ hợp truyền dữ liệu theo công nghệ số, truyền tin tự động, xử lý và mã hóa thông tin với mức bảo mật cao.

Hệ thống cấp điện của tổ hợp luôn trong tư thế sẵn sàng nhờ nguồn năng lượng độc lập hoặc từ bên ngoài. Vị trí của các thiết bị được đảm bảo, cài đặt trên nền khung gầm xe cơ động, cho phép tổ hợp có tính di động cao, có khả năng vận hành chiến đấu trong điều kiện môi trường phóng xạ, hóa chất và ô nhiễm sinh học .

Tổ hợp cũng được trang bị thiết bị nhìn đêm, thiết bị lái, thiết bị giám sát địa hình và định vị vị trí, giúp nó thay đổi vị trí trận địa rất nhanh sau khi hoàn thành nhiệm vụ.

Tổ hợp chỉ mất 10 phút để triển khai một trận địa mới.

Đặc điểm chiến thuật và kỹ thuật cơ bản:

-Tầm bắn: 120 km

-Khoảng cách từ trận địa phóng đến đường bờ biển lên đến 10km

-Số lượng tên lửa trên mỗi xe bệ phóng SPU và xe tiếp đạn TPM: lên đến 8 đơn vị

-Nhịp phóng tên lửa khi phóng loạt không quá 3giây.

Tốc độ hành quân:

- Trên đường nhựa: 60km/h

- Trên địa hình chia cắt: 20km/h

Trọng lượng phóng của tên lửa: 620kg

Tổng cơ số đạn tên lửa của hệ thống: 64 quả

Dự trữ hành trình (không tiếp dầu):  ≥850 km

Đức Dũng (Lược dịch)