Mong muốn lớn nhất của Người khuyết tật (NKT) là được sống hòa nhập, có công việc và thu nhập ổn định, không phải phụ thuộc vào gia đình và xã hội.

 Với sự hỗ trợ của Dự án “Thúc đẩy các quyền và cơ hội cho người khuyết tật - Việc làm thông qua luật pháp” trong khuôn khổ hợp tác phát triển giữa Tổ chức Lao động quốc tế ILO và Cơ quan Phát triển Ai Len tại Việt Nam giai đoạn (2014 - 2015), Tổng cục Dạy nghề đã phối hợp với ILO tiến hành khảo sát 120 người khuyết tật về dạy nghề, tạo việc làm tại 4 tỉnh, thành: Phú Thọ, Hải Phòng, Đà Nẵng, Bà Rịa - Vũng Tàu.    Việc tiến hành khảo sát để đánh giá đúng thực trạng công tác hỗ trợ dạy nghề và tạo việc làm cho NKT là rất cần thiết. Mặc dù tiến hành trong thời gian ngắn, phạm vi khảo sát hẹp, số mẫu khảo sát không nhiều nhưng phần nào đã phản ánh được cơ bản thực trạng của công tác dạy nghề, tạo việc làm cho NKT. 

Người có hoàn cảnh đặc biệt đến tham gia tuyển dụng tìm việc làm phù hợp
 Tổng số 120 NKT được khảo sát đều có nhu cầu được hỗ trợ học nghề và hỗ trợ việc làm. Đây là nhu cầu và nguyện vọng chính đáng của NKT. Mong muốn lớn nhất của NKT là được sống hòa nhập, có công việc và thu nhập ổn định, không phải phụ thuộc vào gia đình và xã hội. Cụ thể, số người mong muốn được học nghề để làm công ăn lương tại các doanh nghiệp chiếm 45%; số người tự tổ chức sản xuất, kinh doanh 24%; chỉ có 1,6% số người được khảo sát chỉ tham gia học nghề để biết. 66,6% có nhu cầu được tư vấn, hỗ trợ việc làm sau học nghề; 50% có nhu cầu vay vốn để phát triển sản xuất, hoặc mở cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ.

  Có tới 52,5% số người được khảo sát là khuyết tật về vận động. Đây cũng là số người tham gia học nghề đông nhất, tiếp đến là NKT về nghe nói chiếm 24%. Tuy nhiên, số NKT vận động tham gia học nghề chủ yếu là khuyết tật nhẹ, đa phần có thể học hòa nhập. Số NKT khác như khuyết tật nhìn, khuyết tật về trí tuệ, thần kinh tham gia học nghề rất ít và chủ yếu tham gia học nghề ở các cơ sở dạy nghề chuyên biệt dành cho NKT. Như vậy, có thể thấy khả năng tham gia học nghề và làm việc của các nhóm khuyết tật là khác nhau. Đây cũng là một trở ngại trong quá trình thực hiện hỗ trợ NKT.
  Qua khảo sát, đặc biệt là các địa phương có điều kiện kinh tế, xã hội còn khó khăn như các huyện thuộc tỉnh Phú Thọ, Hải Phòng, hầu hết NKT rất khó khăn trong việc đi lại để tham gia học tập. NKT khi tham gia học nghề, nhiều người phải có người đưa đón. Trong khi đó, các mức hỗ trợ tiền ăn, mức hỗ trợ tiền đi lại theo chính sách quy định là quá thấp và không phù hợp đối với NKT. Hầu hết các tỉnh đều thực hiện theo mức quy định tại Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Riêng tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có bổ sung thêm ở mức cao hơn nhưng so với thực tế chưa đáp ứng được nhu cầu của NKT.
 Đa phần NKT gặp khó khăn trong quá trình di chuyển từ nơi ở đến cơ sở dạy nghề, do đó, số NKT học các trình độ cao đẳng, trung cấp rất ít. Một phần nữa là gia đình NKT cũng không yên tâm khi con em mình đi học xa. Một số nơi địa bàn nông thôn và khu vực miền núi, điều kiện đi lại còn khó khăn nên hầu hết NKT ở những địa bàn này đều mong muốn được hỗ trợ học nghề tại địa điểm gần nhà và mong muốn có sự hỗ trợ để tự làm việc tại nhà.
 
Thực tế  NKT tiếp cận vay vốn ưu đãi còn hạn chế, một phần là do NKT không thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo thì không được vay vốn của Quỹ quốc gia giải quyết việc làm. Đồng thời, nguồn vốn có hạn, nên số NKT được vay vốn đạt rất thấp. Qua khảo sát cho thấy, trong tổng số 120 NKT 70% người có nhu cầu vay vốn, tuy nhiên hầu như NKT chưa được vay vốn để tổ chức sản xuất kinh doanh. Nhiều NKT cho rằng điều kiện và thủ tục để được vay vốn rất khó khăn, phức tạp.
 Kết quả khảo sát cũng cho thấy, vấn đề đối với bản thân NKT đó là cần phải chủ động hơn nữa trong tìm hiểu, nắm bắt các thông tin về chính sách, pháp luật dành cho NKT và các chương trình, dự án hỗ trợ hoặc có hỗ trợ học nghề gắn với giải quyết việc làm cho NKT; Khắc phục tâm lý mặc cảm, tự ti để chủ động tham gia học nghề theo khả năng và nhu cầu tại các cơ sở dạy nghề hòa nhập; Tích cực tham gia các khóa học nghề để có việc làm trong các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức hoặc tự tạo việc làm phù hợp với bản thân; Cung cấp các thông tin về bản thân và tham gia đầy đủ các lớp đào tạo, bồi dưỡng.
 Học nghề và có việc làm, có thu nhập, đóng góp cho gia đình và xã hội là nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của NKT. NKT không nên có tâm lý chờ đợi, cần chủ động liên hệ với các cơ quan, chính quyền các cấp, cơ sở dạy nghề để nắm thông tin về các chương trình, đề án hỗ trợ NKT đang thực hiện để chủ động đề xuất việc hỗ trợ cho NKT; Thành lập các tổ, nhóm sản xuất, kinh doanh dịch vụ của NKT để cùng hỗ trợ nhau trong việc học nghề, làm việc.

 

Tuyên truyền Đề án phát triển nghề Công tác xã hội (Đề án 32)

 

 

Mai Lan