Phần lớn các chuyên gia chống khủng bố đều cho rằng Mỹ sẽ không phải đối mặt với nguy cơ khủng bố như các nước châu Âu mặc dù vụ tấn công khủng bố liên hoàn ở Paris vào đêm 13/11 cho thấy đông đảo các tay súng IS đã tràn tới khu vực này.

Theo tờ The Guardian, sau các vụ tấn công khủng bố trong 2 tuần qua khiến 129 người chết ở Pháp, 224 hành khách thiệt mạng trên chiếc Airbus A321 của hãng hàng không Nga Metrojet trên bán đảo Sinai ở Ai Cập và 43 người chết trong vụ đánh bom kép ở Lebanon, giới phân tích tình báo và quan chức Mỹ vẫn khẳng định nguy cơ Mỹ bị lực lượng Nhà nước Hồi giáo tự xưng IS tấn công là rất thấp. 

Cảnh sát Pháp truy tìm thủ phạm thực hiện các vụ tấn công khủng bố ở Paris hôm 13/11. 

Vì sao Mỹ không sợ?

Vị tri địa lý và kiểm soát hoạt động di chuyển chặt chẽ là 2 yếu tố khiến Mỹ tự tin trong cuộc chiến ngăn chặn khủng bố. Cụ thể, hoạt động di chuyển giữa Mỹ và Trung Đông thường bị kiểm soát chặt chẽ hơn nhiều so với các quốc gia châu Âu khác. Kể từ đầu thập niên 90, trước mối lo ngại về nạn khủng bố, Mỹ cũng không tiếc tiền đầu tư thiết bị cũng như đưa ra các chính sách phục vụ hoạt động giám sát, an ninh và tình báo. 

Ngoài ra, Mỹ còn có lịch sử lâu đời hợp tác với giới chức kiểm soát vùng biên giới ở Mexico và Canada, nhằm ngăn chặn làn sóng vượt biên trái phép. 

Trái lại, người tị nạn từ Syria có thể dễ dàng di chuyển tới các nước châu Âu. Do chính sách mở cửa với người nhập cư, chính phủ các nước thuộc Liên minh châu Âu (EU) đang phải đau đầu giải quyết trước bài toán chính trị và kinh tế cho 750.000 người di cư. 

Làn sóng di cư còn đè nặng trách nhiệm giám sát và tài chính lên các cơ quan an ninh châu Âu để phát hiện và ngăn chặn những mối đe dọa dù là nhỏ nhất trong khi nguồn quỹ hoạt động chỉ có giới hạn. Trong khi đó, chỉ riêng Bộ An ninh Nội địa Mỹ đã được chính phủ nước này này chi 40 tỷ USD hoạt động. 

"Sau vụ tấn công khủng bố 11/9, Mỹ đã tăng cường hợp tác với các ban ngành tình báo và cảnh sát không chỉ ở Mỹ mà còn khắp châu Âu. Do đó, các cuộc tấn công khủng bố càng khó thực hiện", cựu quan chức Nhà Trắng, ông Heather Hurlburt chia sẻ với tờ The Guardian. 

Kiểm soát súng lỏng lẻo

Mặc dù chỉ số ít hộ gia đình tại Mỹ sở hữu súng nhưng những nghiên cứu cho thấy ở những khu vực nào sở hữu càng nhiều súng càng dễ xảy ra các vụ tự sát. Sau sự việc một người đàn ông sát hại 26 người tại một trường tiểu học hồi năm 2012, các vụ bắn giết tại Mỹ đang xảy ra chủ yếu ở trường học, nhà hát, nhà thờ và các khu vực công cộng. 

Nhà nghiên cứu Andrew Lebovich tại Hội đồng châu Âu về Quan hệ Đối ngoại nhấn mạnh "mặc dù trong những năm qua, mạng lưới khủng bố al-Qaeda đã hối thúc những người Mỹ theo đạo Hồi cầm súng và tiến hành các vụ xả súng" song chưa có vụ án nào có quy mô lớn như vụ tấn công liên hoàn ở Paris đêm 13/11. 

Còn theo cựu quan chức Nhà Trắng Hurlburt, mặc dù Pháp có luật kiểm soát súng chặt chẽ nhưng trong những năm gần đây, các vụ án liên quan tới việc sở hữu súng trái phép đang diễn ra tràn lan. 

"Ngày càng có nhiều con đường vận chuyển súng từ các vùng chiến sự ở phía đông châu Âu và bắc châu Phi. Còn những kẻ tấn công đang lợi dụng khả năng kiểm soát súng lỏng lẻo của giới chức châu Âu", ông Hurlburt nói. 

Người dân Mỹ tập trung tại Công viên Quảng trường Washington tưởng nhớ các nạn nhân trong vụ tấn công khủng bố ở Paris. 

Mầm mống khủng bố trong nước

Mối đe dọa từ hoạt động khủng bố trong nước ở châu Âu, Mỹ và Canada là hoàn toàn có thật song cách đối phó của mỗi nước cũng khác nhau.

Tại châu Âu kể từ năm 2001, hàng loạt vụ tấn công nghiêm trọng do mạng lưới khủng bố gồm các thành viên là công dân châu Âu và người nước thực hiện. Điển hình, vụ đánh bom ở Madrid hồi năm 2004 do thủ phạm là người Tây Ban Nha, Bắc Phi và Syria thực hiện. Vụ đánh bom ở London năm 2005 do 4 công dân Anh tiến hành. Vụ tấn công tòa soạn tạp chí châm biếm Charlie Hebdo hồi tháng Một được hai anh em mang quốc tịch Pháp thực hiện. Còn trong vụ tấn công khủng bố liên hoàn ở Paris hôm 13/11, thủ phạm được xác định là công dân Pháp và Bỉ. Không ít những kẻ khủng bố thực hiện các vụ án trên từng có thời gian tới Trung Đông. 

Trái lại, lịch sử đã chứng minh tư tưởng cực đoan bạo lực dường như không tác động tới cộng đồng người Hồi giáo ở Mỹ. Cộng đồng nhỏ bé này hình thành từ lực lượng người di cư bao gồm người Mỹ gốc Somali định cư ở bang Minnesota hay người Mỹ gốc Yemen và Bosnia ở bang Michigan. 

Còn tại Pháp, nhiều người Hồi giáo đang sinh sống ở bên trong hoặc ngoài khu vực ngoại ô các thành phố lớn mà tổ tiên của họ là người Bắc Phi từng phải làm nô lệ cũng như trải qua hàng thập niên bị phân biệt đối xử và ngược đãi. Một trong những vụ thảm sát tồi tệ nhất trong lịch sử Pháp là vụ sát hại từ 50 – 200 nguời Pháp gốc Algeria do cảnh sát Pháp thực hiện năm 1961. 

Cả Pháp và Bỉ cũng đã có những nỗ lực lớn để kiểm soát lực lượng thanh niên Hồi giáo song cả hai quốc gia này lại đang phải chứng kiến làn sóng thanh niên di cư đông đảo tới vùng nội chiến Syria. Cụ thể, khoảng 250 công dân Mỹ đang có mặt tại vùng chiến sự ở Libya và Syria. Con số này ở Pháp và Bỉ là 1.000 người. 

Kiểm soát người di cư

Người di cư tới Mỹ sẽ phải mất từ 12 – 18 tháng trải qua các cuộc phỏng vấn, kiểm duyệt giấy tờ hành chính để xin định cư. Do đó, những người đã được chính phủ Mỹ chấp nhận thường không dám gây rắc rối. Theo Viện chính sách nhập cư Mỹ, kể từ sau sự kiện 11/9, nước này đã tiếp nhận hơn 780.000 người di cư và chỉ 3 người bị bắt vì cáo buộc khủng bố. 

Ngoài ra, chính phủ Mỹ còn lập một danh sách theo dõi và chia sẻ thông tin với nhiều quốc gia cũng như tăng các yêu cầu trong hoạt động cấp visa kể từ sau vụ khủng bố 11/9. Bởi Tổng thống Obama và giới chức Mỹ nhận định càng để mặc người di cư rơi vào cái bẫy của phe khủng bố, tình trạng bất mãn sẽ ngày càng gia tăng. 

Nội dung được thực hiện dựa trên tham khảo nguồn tin từ The Guardian, tờ báo thông tin đời sống xã hội có lượng bạn đọc đông đảo của Anh.


MINH THU (lược dịch)