Nhận thức được tầm quan trọng của công tác phòng, chống rửa tiền, khẳng định quyết tâm của Việt Nam chống tội phạm nói chung và tội phạm rửa tiền nói riêng, Việt Nam đã không ngừng nỗ lực xây dựng khung pháp lý, tổ chức bộ máy quản lý hiệu quả

Nhận thức được tầm quan trọng của công tác phòng, chống rửa tiền, khẳng định quyết tâm của Việt Nam chống tội phạm nói chung và tội phạm rửa tiền nói riêng, Việt Nam đã không ngừng nỗ lực xây dựng khung pháp lý, tổ chức bộ máy quản lý hiệu quả, đồng thời, sát cánh với các quốc gia trên thế giới trong cuộc chiến chống rửa tiền.

Để nâng cao toàn diện chất lượng công tác phòng, chống rửa tiền, hướng tới đáp ứng các chuẩn mực quốc tế trong lĩnh vực này, một trong những nhiệm vụ cấp bách cần được triển khai ngay chính là việc hoàn thiện khung pháp lý về phòng, chống rửa tiền.

Theo đó, khung pháp lý này cần tập trung vào một số lĩnh vực như: Triển khai các biện pháp ngăn chặn có hiệu lực; tăng cường yêu cầu về thu thập và quản lý thông tin khách hàng; gia tăng hiệu lực của các báo cáo về giao dịch đáng ngờ; quản lý và giám sát.

Để có thể đảm bảo công tác phòng, chống rửa tiền trong hệ thống ngân hàng có hiệu quả, giảm thiểu rủi ro cũng như bảo vệ lợi ích cổ đông, các ngân hàng cần xây dựng chính sách, quy trình hướng dẫn cách thức thực hiện công tác phòng, chống rửa tiền tại các khâu như: Mở và sử dụng tài khoản; quy định về nhận biết khách hàng, nhận biết khách hàng giản đơn và tăng cường.

Đồng thời áp dụng phương pháp phân loại rủi ro rửa tiền dựa trên ma trận rủi ro. Ma trận rủi ro rửa tiền được xây dựng để đánh giá rủi ro, kiểm soát các rủi ro đã được xác định, đánh giá tần suất xảy ra và mức độ ảnh hưởng và xếp hạng rủi ro. Các ngân hàng thường phân theo các mức độ rủi ro rửa tiền: Từ mức độ rủi ro thấp; mức độ rủi ro trung bình; mức độ rủi ro cao.

Các ngân hàng cũng cần xác định rủi ro, các dấu hiệu rửa tiền trong từng sản phẩm dịch vụ, từng hoạt động kinh doanh, giao dịch như: Trong hoạt động kế toán giao dịch; hoạt động tín dụng; hoạt động tài trợ thương mại; hoạt động chứng khoán; hoạt động thẻ.

Ngoài ra, các ngân hàng cũng đã hoàn thiện mô hình tổ chức toàn diện từ hội sở chính, chi nhánh đến các công ty trực thuộc trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam là điều kiện vô cùng quan trọng trong việc thực hiện phòng, chống rửa tiền có hiệu quả.

Tại hội sở chính, phải có bộ phận phụ trách phòng, chống rửa tiền chuyên trách, chuyên xử lý phân tích các báo cáo, thu thập dữ liệu giao dịch, khách hàng. Tại chi nhánh và các công ty trực thuộc mỗi một đơn vị cũng cần phải có bộ phận xử lý phòng, chống rửa tiền chuyên trách và liên hệ làm việc trực tiếp, nhận hỗ trợ từ bộ phận phụ trách phòng, chống rửa tiền chuyên trách tại hội sở chính.

Việc hỗ trợ và nhận thức rủi ro về phòng, chống rửa tiền từ ban lãnh đạo cũng là một điều kiện tiên quyết cho một hệ thống phòng, chống rửa tiền thành công, do vậy, mỗi ngân hàng thương mại cần có một lãnh đạo phụ trách về phòng, chống rửa tiền.

Ngoài ra, kiểm soát tuân thủ thực hiện phòng, chống rửa tiền không thể thiếu bộ phận kiểm tra, kiểm soát tính tuân thủ, thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ, quy định về PCRT. Giải pháp về hệ thống công nghệ hỗ trợ: Hệ thống phòng, chống rửa tiền cần phải có 2 module thiết yếu là Filtering: ngăn chặn tức thời và Profiling dành cho phân tích sau.

Đối với Profiling, các ví dụ về kịch bản rửa tiền đưa ra nhằm cài đặt vào trong hệ thống, và kiểm nghiệm kết quả từ các kịch bản đang được xây dựng; thu thập tất cả các giao dịch nghi ngờ phục vụ cho việc profiling; quy tắc với các tham số xác định các thành phần của kịch bản (ví dụ: các tài khoản có giao dịch lớn hơn 200,000 triệu...; các khách hàng có nhiều hơn 5 tài khoản tại ngân hàng; danh sách các khách hàng đen, các nước, quốc gia không hợp tác về rửa tiền do các tổ chức có uy tín cung cấp hàng năm…)

Đối với Filtering, quy trình cảnh báo trong Filtering; hỗ trợ KYC, CDD, enhanced CDD; xếp hạng rủi ro dựa trên ma trận rủi ro, ma trận rủi ro phải được xây dựng dựa trên: sản phẩm dịch vụ của ngân hàng mà khách hàng sử dụng, quốc gia khách hàng cư trú...

Với sự nỗ lực to lớn của Ngân hàng nhà nước, trong thời gian qua công tác phòng, chống rửa tiền qua hệ thống ngân hàng Việt Nam đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận. Năm 2005,  Chính  phủ  đã  ban  hành  Nghị  định 74/2005/NĐ-CP  về phòng, chống rửa tiền. Và luật Phòng, chống rửa tiền được Quốc Hội thông qua năm 2012 là một bước tiến lớn cho thấy quyết tâm thực hiện tốt công tác phòng, chống rửa tiền của Việt Nam.

Tiếp đó, cũng vào năm 2005, Trung tâm thông tin phòng, chống rửa tiền (nay là Cục phòng, chống rửa tiền) được thành lập, đây là đơn vị trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, hoạt động có hiệu quả, tiếp nhận, tổng hợp các báo cáo giao dịch đáng ngờ, thông báo kịp thời chọ Bộ Công an xử lý.

Đặc biệt, đến nay, hầu hết các ngân hàng thương mại đều ban hành qui định nội bộ về phòng, chống rửa tiền, và ở một số ngân hàng hàng lớn như: Vietcombank, Vietinbank đã thành lập bộ phận chuyên trách về phòng, chống rửa tiền. 

Vào năm 2009, Việt Nam đã được kết nạp làm thành viên thứ 33 của Nhóm Châu Á Thái Bình Dương về phòng, chống rửa tiền và đã được tổ chức này đánh giá đa phương.  Đồng thời, hoạt động phòng, chống rửa tiền ở Việt Nam được sự hỗ trợ của nhiều tổ chức quốc tế đặc biệt là WB, IMF, ADB.


Duy Anh