Trong một khu vườn nhỏ ở thôn Xóm Bùng, xã Điện Hòa (Điện Bàn), ông Nguyễn Văn Khương trông khá thong dong. Ông tự đào ao nuôi cá, làm nhà thủy tạ để có chỗ cho bạn bè đến chơi, ngắm trăng, chuyện vãn

Chỉ đến khi vào nhà, mới biết ông còn dựng cả một sa bàn cảnh núi non xứ Quảng thời trận mạc, ngắm những kỷ vật chiến tranh… tôi mới biết ông đã trải qua một thời tuổi trẻ gan dạ, chết đi sống lại nhiều lần. Lại càng ngạc nhiên hơn khi ông cho xem một Huân chương Kháng chiến được truy tặng năm 1975, vì ông đã từng là… liệt sĩ.

Câu chuyện lạ

Nguyễn Văn Khương sinh ra ngày 20.7.1946, lúc cuộc chiến kháng Pháp đã lan tràn khắp vùng bắc Điện Bàn. Cha mẹ, bà con ông đều tham gia kháng chiến. Lúc còn học ở Trường Tiểu học xã Thanh Trung, ông đã nhận nhiệm vụ làm giao liên, cảnh giới, đốt ấp chiến lược… Lớn lên một chút, ông vào bộ đội, làm lính trinh sát rồi đi học quân báo. Giai đoạn 1964 - 1965, Khương “trinh sát” đã nổi danh ở vùng nông thôn Quảng Đà với hàng loạt trận đánh đầy mưu lược, hàng loạt cuộc giải cứu thông minh. Chính vì vậy mà quân đội và chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã nhiều lần vây bắt mẹ ông - bà Nguyễn Thị Thâm, để khống chế, vì biết ông rất hiếu thảo với mẹ.

Để giải cứu mẹ, ông được trở thành…liệt sĩ!

Giấy báo tử do ông Phan Minh Tựu - cán bộ chính trị Huyện đội Điện Bàn ghi: “Đồng chí Nguyễn Văn Khương đã anh dũng hy sinh ngày 3.2.1965” được gửi về địa phương. Bà Thâm thoát được việc tù đày tra tấn, quay về làng lập bàn thờ cho con. Hàng xóm láng giềng đến thăm viếng, chia buồn… Khương cũng “biến mất” khỏi chiến trường Quảng Nam. Ông đi học Trường Quân báo khu 5 tại Quảng Ngãi hơn một năm trời.

Ông Khương nói: “Chính cái giấy báo tử đó đã cứu mẹ tôi và thay đổi đời tôi”. Từ năm 1966 đến 1969, ông về đơn vị trinh sát quân báo M53 thuộc Tỉnh đội Quảng Đà, thăng đến đại úy, trung đội trưởng rồi đại đội phó… với những chiến công lẫy lừng… Sau Mậu Thân 1968, ông được điều lên Đắc Lắc, rồi sang Campuchia. Sau nhiều lần bị thương, ông được đưa ra miền Bắc điều trị, học hết cấp 3, vào trường Quân chính Quân khu 3, Quân khu Tả Ngạn, rồi về Tổng cục 2 Bộ Quốc Phòng…

Hòa bình lập lại, Nguyễn Văn Khương được cử đi học quản lý kinh tế rồi về Quảng Nam làm việc trong ngành thể dục - thể thao cho đến khi nghỉ hưu năm 1988. Nhưng cái bằng liệt sĩ vẫn còn đó như một kỷ niệm. Ông kể, cho đến năm 1999, lúc mẹ ông qua đời, mới đem đốt theo mẹ! “Liệt sĩ” Nguyễn Văn Khương… trở về khu vườn của cha mẹ với vợ con ở Xóm Bùng, sống chan hòa trong tình làng nghĩa xóm, tối lửa tắt đèn có nhau…

Và câu chuyện có hậu

Sau này nhiều năm, khi Nguyễn Văn Khương được đơn vị cũ yêu cầu lập hồ sơ để phong tặng Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (năm 2013), thì ông lại là một huyền thoại khác của thời bình. Từ “Khương trinh sát” ngày xưa, bây giờ ở quê ai cũng gọi ông một cách thân thương “Ông Khương Từ Thiện”. Tuy chưa được phong anh hùng, nhưng ông vẫn là một anh hùng trong mắt chúng tôi, nhiều người là bạn ông nói vậy.

Trong các báo cáo thành tích thời chiến tranh, tôi đặc biệt chú ý đến những hành động mang đầy tính nhân văn của ông. Chẳng hạn, ông từng lăn vào lửa đạn cứu hàng chục người dân và những đứa bé 1 - 2 tuổi khi bị giặc thẳng tay tàn sát vào năm 1967 tại làng Phi Phú, Gò Nổi. Trong đó có cháu bé một tuổi đang ôm thi thể mẹ bú say sưa. Đứa bé ấy sau 1975 ông đã về thăm lại… Hay trước đó, ông đã từng cứu một phụ nữ 25 tuổi là N.T.G. ra khỏi sự sàm sỡ của giặc, ngay giữa trận chiến đấu vào đêm 20.7.1966 ở Hòa Vang. Năm nay, phụ nữ đó 75 tuổi và đã xác nhận sự việc này trong hồ sơ của ông...

Phẩm chất ấy tiếp tục nở hoa trong cuộc đời Nguyễn Văn Khương khi ông trở về quê nhà. Người dân Xóm Bùng và các giáo viên địa phương kể rằng, vào những năm khó khăn lúc về hưu, ông Khương đã giấu vợ lấy 2 chỉ vàng, là tài sản duy nhất, để mua hai cái máy bơm nước, tạo nguồn nước sạch cho hàng trăm cháu nhỏ ở hai trường Mẫu giáo Bích Bắc và Xóm Bùng tại xã Điện Hòa, vì các cháu không có nước uống. Từ năm 2.000 đến nay, mỗi tháng, ông trích một nửa tiền trợ cấp thương tật (2.150.000 đồng) để trợ cấp cho các cháu học sinh nghèo bậc tiểu học và THCS của hai trường Thái Phiên, Trần Phú ở địa phương. Các bạn ông nhẩm tính, trong 15 năm qua, từ tiền trợ cấp thương tật, ông Nguyễn Văn Khương đã giúp cho các học sinh nghèo ở địa phương gần 200 triệu đồng! Ông còn giúp hai cụ già neo đơn hằng tháng mỗi người 100 nghìn đồng… Một con số làm tôi cũng giật mình và chắc nhiều bạn đọc sẽ ngạc nhiên về tấm lòng của một… “liệt sĩ” như ông Khương!

Ông Khương đưa tay vuốt mái tóc đã bạc và nhìn tôi, nói như giải thích một sự thắc mắc: “Lương hưu tôi mỗi tháng hơn 5 triệu đồng, tôi có mấy sào vườn đủ cho các nhu cầu thực phẩm; mỗi tháng chỉ khống chế chi tiêu 1,8 triệu, còn lại lo cho đứa con gái út chuẩn bị thi đại học, lo phải không trong làng… Nói chung là tôi ổn và thương yêu mọi người như thương yêu chính mình”.

Câu chuyện xúc động và có hậu này phải dừng lại, vì khi nói đến đó, một chiếc xe biển số quân đội thuộc Bộ Quốc phòng đã đến đón ông đi dự buổi chia tay một đồng đội chuyển công tác. Trước khi đi, ông bảo: “Bữa nào đến chơi, bắt cá dưới hồ, bắt gà ngoài vườn anh em mình nhậu chơi. Tôi hát cho mấy chú nghe…”.

Giọng ông vẫn còn sang sảng ở tuổi 70!

TRƯƠNG ĐIỆN THẮNG/Báo Quảng Nam