Hôm nọ, một ông bạn lớn tuổi của tôi đưa cái ảnh cặp loa truyền thanh lên facebook, kèm lời than vãn "sáng thì 7h15, chiều thì 5h, cặp đôi này giã ong hết cả thủ..."
Ảnh minh họa (Nguồn: PNO)

 

Nhiều người bạn khác của anh như được "cởi tấm lòng" cũng chia sẻ những nỗi khổ cực phải chịu đựng vì những cái loa phường được gắn ngay đầu nhà, đầu hồi, sáng tinh mơ đã được bật oang oang.

Những đài truyền thanh từ nông thôn đến đô thị đã xuất hiện từ hàng chục năm trước, khi mà người dân không có nhiều phương tiện để tiếp nhận thông tin, chỉ có số ít người có tiền mua cái radio để thu sóng phát thanh. Những cái loa phường, đài truyền thanh xã khi đó có vai trò vừa chuyển tải những chương trình chính của đài phát thanh, vừa để phổ biến những chủ trương chính sách, công việc hàng ngày. Thời chiến tranh, hệ thống truyền thanh còn có thêm tác dụng của việc cảnh báo mỗi khi máy bay đến, báo động trong tình huống khẩn cấp.

Có lẽ nhiều người Hà Nội còn nhớ đến tiếng còi ở Nhà Hát Lớn mỗi buổi trưa, một sản phẩm từ thời chiến, và đã được tháo dỡ hơn hai mươi năm trước.

Nhưng hệ thống loa truyền thanh không hiểu sao, vẫn được duy trì và không những thế, còn phát triển thêm.

Vẫn là những cái loa nén, công suất cao hơn, vẫn là tiếp âm đài phát thanh, có thêm những thông báo các thể loại của địa phương, từ tiêm phòng đến mời lĩnh lương hưu, từ họp phụ nữ đến thông báo nghĩa vụ quân sự... Thi thoảng còn là những bài hát được bật lên theo hứng thú của người trông coi đài truyền thanh phường.

Nhưng hoàn cảnh bây giờ đã hoàn toàn khác, phương tiện mà người dân có thể tiếp xúc với thông tin đã nhiều hơn rất nhiều, họ cũng không còn nhu cầu nhận thông tin một chiều từ những cái loa đầu nhà nữa. "Loa phường" đã trở thành một từ được dùng có tính chất diễu cợt nhằm chỉ những người nói nhiều, nói không quan tâm đến người nghe.

Sự tồn tại của những cái loa phường giờ đây theo nghĩa khác, như một yếu tố gây ô nhiễm tiếng ồn ở đô thị. Tác dụng của những cái loa phường, vì thế, không chỉ không đạt được mục đích là một kênh thông tin giữa chính quyền với người dân, mà trở thành một yếu tố tạo nên ác cảm của người dân với chính quyền, khi những nhu cầu của người dân không được tôn trọng.

Ở một góc khác, sẽ nhìn thấy sự sáo mòn trong phương pháp vận động nhân dân và thông tin đến xã hội, khi hàng chục năm không thay đổi phương thức truyền tin, dù xã hội và công nghệ đã thay đổi, nhu cầu thông tin của người dân đã đổi khác. Lẽ ra sự phát triển của xã hội và thông tin sẽ khiến phương thức thông tin, trao đổi của chính quyền và người dân cũng sẽ phải thay đổi theo, để việc thông tin thực sự có hiệu quả, hỗ trợ cho công tác điều hành.

Những cái loa phường, vì vậy, trở thành một chỉ dấu của sự trì trệ, quan liêu nhiều hơn là một công cụ truyền tin đến người dân.

Và có lẽ, cũng đã đến lúc cần khảo sát, đánh giá nghiêm túc về sự ảnh hưởng và những tác hại của những cái loa phường, thiện cảm của người dân với nó, để có những giải pháp thông tin thích hợp và hiệu quả hơn.

Phạm Quang Vinh