Liên bộ Tư pháp và Bộ Ngoại giao vừa có Văn bản số 02/2016/TTLT-BNG-BTP hướng dẫn việc đăng ký và quản lý hộ tịch tại các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, có hiệu lực thi hành từ ngày 15-8.

Thông tư liên tịch này hướng dẫn chi tiết việc đăng ký hộ tịch cho công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài; đăng ký lại khai sinh, kết hôn, khai tử; cấp bản sao trích lục hộ tịch; cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài; quản lý nhà nước về hộ tịch tại cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài.

Phiên âm tên theo tiếng La tinh

Trường hợp họ, chữ đệm, tên của người cha hoặc người mẹ của trẻ là người nước ngoài mà không được viết dưới dạng chữ cái La tinh thì ghi theo phiên âm La tinh trong hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay thế hộ chiếu của người đó (ví dụ: Chen Yung Yu, Han Ji Young,...).

Tên địa danh, tên quốc gia nước ngoài được viết theo tên đã được Việt hóa (ví dụ: Liên bang Nga, Cộng hòa Pháp, Cộng hòa Liên bang Đức, Vương quốc Anh, Hoa Kỳ, Bắc Kinh, Thượng Hải,...); trường hợp không có tên Việt hóa thì viết theo phiên âm La tinh (ví dụ: Osaka, Kyoto).

Nếu cha, mẹ chưa xác định được một số nội dung khai sinh (như dân tộc, quê quán) thì phần ghi tương ứng trong giấy khai sinh, sổ đăng ký khai sinh để trống.


Hai bé con lai Tôm và Tép đáng yêu của ca sĩ Hồng Nhung. (Ảnh minh họa)

Đăng ký khai sinh

Cơ quan đại diện ở khu vực lãnh sự nơi cha hoặc mẹ của trẻ em cư trú hoặc nơi trẻ em sinh ra thực hiện việc đăng ký khai sinh cho trẻ em sinh ra tại nước ngoài, chưa được đăng ký khai sinh tại cơ quan có thẩm quyền nước ngoài và thuộc một trong các trường hợp sau:

- Có cha và mẹ là công dân Việt Nam;

- Có mẹ là công dân Việt Nam, cha là người không quốc tịch hoặc chưa xác định được người cha;

- Có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam, người kia là người nước ngoài, cha và mẹ có văn bản thỏa thuận lựa chọn quốc tịch Việt Nam cho con khi đăng ký khai sinh.

Người yêu cầu đăng ký khai sinh nộp các giấy tờ sau: Tờ khai đăng ký theo mẫu; giấy chứng sinh hoặc giấy tờ khác do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cấp, xác nhận về việc trẻ em được sinh ra ở nước ngoài và quan hệ mẹ - con; văn bản của cha mẹ thỏa thuận lựa chọn quốc tịch Việt Nam cho con đối với trường hợp trẻ em có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là người nước ngoài.

Trường hợp cha, mẹ không nộp hồ sơ trực tiếp thì chữ ký trên văn bản thỏa thuận lựa chọn quốc tịch phải được chứng thực hợp lệ và phải xuất trình giấy tờ chứng minh quan hệ hôn nhân.

Thông tư nêu rõ: Trường hợp chưa xác định được cha của trẻ thì họ, dân tộc, quê quán, quốc tịch của con được xác định theo họ, dân tộc, quê quán, quốc tịch của người mẹ; phần ghi về người cha trong sổ đăng ký khai sinh và giấy khai sinh để trống.

Trường hợp vào thời điểm đăng ký khai sinh, người cha yêu cầu làm thủ tục nhận con thì cơ quan đại diện kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh.

Hai bên phải có mặt để nhận giấy chứng nhận kết hôn

Cơ quan đại diện ở khu vực lãnh sự nơi cư trú của bên nam hoặc bên nữ là công dân Việt Nam thực hiện đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài với nhau hoặc với người nước ngoài.

Trường hợp công dân Việt Nam tạm trú ở nước ngoài kết hôn với công dân Việt Nam thường trú ở nước ngoài; công dân Việt Nam thường trú ở nước ngoài kết hôn với nhau hoặc công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài thì bên nam và bên nữ phải nộp thêm giấy xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền của Việt Nam hoặc của nước ngoài cấp không quá sáu tháng, xác nhận không mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không có khả năng nhận thức, làm chủ hành vi.

Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cán bộ lãnh sự nghiên cứu, thẩm tra hồ sơ, trường hợp cần thiết thì tiến hành các biện pháp xác minh. Nếu hồ sơ đầy đủ, hợp lệ, đủ điều kiện kết hôn thì cán bộ lãnh sự báo cáo thủ trưởng cơ quan đại diện ký hai bản chính giấy chứng nhận kết hôn.

Trường hợp một hoặc hai bên nam, nữ không thể có mặt để nhận giấy chứng nhận kết hôn theo thông báo của cơ quan đại diện thì phải có văn bản đề nghị được gia hạn thời gian tổ chức trao giấy chứng nhận kết hôn. Thời gian gia hạn không quá 60 ngày.

Hết thời hạn 60 ngày mà hai bên nam, nữ không đến nhận giấy chứng nhận kết hôn thì sẽ hủy giấy chứng nhận kết hôn đã ký.

Nếu sau đó hai bên nam, nữ vẫn muốn kết hôn với nhau thì tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn từ đầu.

Theo L.THANH/Pháp luật TP.HCM