Từ ngày 1- 8, một loạt chính sách mới trong lĩnh vực lao động - tiền lương có hiệu lực và đi vào cuộc sống. Dưới đây là một số chính sách chủ yếu.

Thay đổi mức lương giúp người lao động có thu nhập cao hơn. Ảnh: Thanh Hải

Tăng 8% lương hưu, trợ cấp hằng tháng

Nghị định số 55/2016/NĐ-CP ngày 15-6-2015 điều chỉnh tăng 8% mức lương hưu, trợ cấp hằng tháng cho nhóm đối tượng nghỉ hưu trong giai đoạn từ 1-1-2015 đến 30-4-2016. Đối tượng được hưởng trong nhóm này gồm: Cán bộ, công chức, công nhân, viên chức và người lao động; quân nhân, công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu đang hưởng lương hưu hàng tháng; cán bộ cấp xã quy định tại Nghị định 92/2009/NĐ-CP, Nghị định 121/2003/NĐ-CP, Nghị định 09/1998/NĐ-CP đang hưởng lương hưu và trợ cấp hàng tháng. Thời điểm điều chỉnh mức lương, trợ cấp tăng thêm tính từ tháng bắt đầu hưởng lương hưu, trợ cấp hàng tháng.

Ngoài ra, Nghị định còn nâng đồng loạt mức lương hưu, trợ cấp mất sức lao động đối với những đối tượng được hưởng thấp hơn 2 triệu đồng/người/tháng.

Mức lương mới cho cán bộ, công chức

Thông tư 05/2016/TT-BNV của Bộ Nội vụ hướng dẫn cụ thể thực hiện mức lương cơ sở đối với đối tượng hưởng lương, phụ cấp trong cơ quan, đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội. Theo đó, mức lương, phụ cấp và hoạt động phí của các đối tượng quy định tại Điều 1 Thông tư này sẽ được tính theo mức lương cơ sở là 1.210.000 đồng kể từ ngày 1-5-2016. Đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thôn, tổ dân phố được quy định cụ thể như sau: Từ ngày 1-5-2016, quỹ phụ cấp được ngân sách Trung ương khoán đối với mỗi cấp xã, mỗi thôn, tổ dân phố quy định tại Khoản 3 và 4 Điều 1 Nghị định số 29/2013/NĐ-CP ngày 8-4-2013 của Chính phủ được tính theo mức lương cơ sở 1.210.000 đồng/tháng.

Với cán bộ, công chức có hệ số lương từ 2,34 trở xuống đã được hưởng tiền lương tăng thêm quy định tại Nghị định 17/2015/NĐ-CP được quy định như sau: Nếu tổng tiền lương và các khoản phụ cấp lương tính theo mức lương cơ sở 1.210.000 đồng/tháng của tháng 5-2016 thấp hơn tiền lương và các khoản phụ cấp lương cộng với tiền lương tăng thêm theo Nghị định 17 tính theo mức lương cơ sở 1.150.000 đồng/tháng của tháng 4-2016 thì được hưởng chênh lệch cho bằng tổng tiền lương đã hưởng của tháng 4-2016. Mức hưởng chênh lệch này không dùng để tính đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và các loại phụ cấp lương.

Về lao động, tiền lương đối với công ty có vốn nhà nước

Ngày 13-6-2016, Chính phủ ban hành 3 Nghị định: Nghị định 51 quy định quản lý lao động, tiền lương và tiền thưởng đối với người lao động làm việc trong công ty TNHH một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ; Nghị định 52 quy định tiền lương, thù lao, tiền thưởng đối với người quản lý công ty TNHH một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và Nghị định 53 quy định về lao động, tiền lương, thù lao, tiền thưởng đối với công ty có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước.

Tại công ty TNHH một thành viên 100% vốn Nhà nước có hai nội dung đáng chú ý. Thứ nhất, Nghị định 51 quy định tiền lương, thưởng đối với người lao động gồm những nội dung chính như xác định quỹ tiền lương kế hoạch, quỹ tiền lương thực hiện. Căn cứ quỹ tiền lương thực hiện, công ty được trích lập quỹ dự phòng để bổ sung vào quỹ tiền lương của năm sau. Quỹ dự phòng của công ty không được vượt quá 17% quỹ tiền lương thực hiện. Đối với công ty sản xuất, kinh doanh có tính mùa vụ, quỹ dự phòng không vượt quá 20% quỹ tiền lương thực hiện. Thứ hai, tiền lương, thù lao, tiền thưởng đối với người quản lý công ty được quy định tại Nghị định 52. Theo đó, đối với quản lý chuyên trách, nếu lợi nhuận vượt kế hoạch thì cứ 1% lợi nhuận, quản lý được tính thêm tối đa 1% tiền lương và không vượt quá 20% mức tiền lương bình quân kế hoạch. Đối với quản lý không chuyên trách, tính trên cơ sở số quản lý, thời gian làm việc và mức thù lao theo quy định.

Đối với công ty cổ phần, quỹ tiền lương kế hoạch của người lao động được xác định dựa trên số lao động kế hoạch và mức tiền lương bình quân kế hoạch theo quy định. Đối với công ty có lợi nhuận thì mức tiền lương bình quân kế hoạch được xác định trên cơ sở mức tiền lương bình quân thực hiện theo kết quả sản xuất, kinh doanh của năm trước liền kề gắn với mức tăng/giảm năng suất lao động kế hoạch so với thực hiện năm trước liền kề, bảo đảm mức tăng tiền lương bình quân phải thấp hơn mức tăng năng suất lao động bình quân. Đối với công ty không có lợi nhuận hoặc lỗ (trừ các trường hợp khách quan), mức tiền lương bình quân kế hoạch được xác định bằng mức tiền lương bình quân trong hợp đồng lao động và tiền lương của ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương, tiền lương trả thêm khi làm việc vào ban đêm, làm thêm giờ theo quy định của Bộ luật Lao động.

Theo báo Bắc Giang