Vụ việc Minh béo bị bắt tại Mỹ đang khiến dư luận rất quan tâm. Ngoài yếu tố Minh béo là một nghệ sĩ, từ câu chuyện này có nhiều so sánh thú vị về luật pháp giữa 2 nước, nhất là câu chuyện bảo lãnh (bảo lĩnh) tại ngoại với 22 tỉ đồng.

Nghệ sĩ Minh Béo (tên thật là Hồng Quang Minh, 38 tuổi) bị bắt tại Mỹ vì có tình nghi liên quan đến quan hệ tình dục, quấy rối tình dục trẻ em. Việc kết luận có tội hay không phải chờ phán quyết của Tòa án Mỹ. Tuy nhiên, mấy ngày qua dư luận Việt Nam rất xôn xao quanh thông tin này, nhất là thông tin về bảo lãnh tại ngoại.

Nghệ sĩ Minh Béo (tên thật là Hồng Quang Minh, 38 tuổi) trước thời điểm bị bắt

Trao đổi với PV Infonet, luật sư Đặng Văn Cường, Văn phòng luật sư Chính Pháp (Đoàn Luật sư Hà Nội) cho rằng: Dù có 22 tỉ đồng, ở Việt Nam, Minh béo vẫn không được bảo lãnh tại ngoại.

Theo Luật sư Đặng Văn Cường, về nguyên tắc, với các bị can mà bị khởi tố về các tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng (hình phạt từ 15 năm tù trở lên) thì sẽ bắt buộc áp dụng biện pháp ngăn chặn là tạm giam.

Chi tiết, về bảo lãnh tại ngoại được quy định tại điều 92, 93 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Theo quy định tại Điều 92, Điều 93 Bộ luật Tố tụng Hình sự Việt Nam hiện hành thì người đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn là tạm giam để điều tra vẫn có cơ hội được thay đổi biện pháp ngăn chặn, chuyển sang biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (được trở về nhà).

Cụ thể, Điều 92 Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định như sau:

"Điều 92. Bảo lĩnh

1. Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn để thay thế biện pháp tạm giam. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ được bảo lĩnh.

2. Cá nhân có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là người thân thích của họ. Trong trường hợp này thì ít nhất phải có hai người. Tổ chức có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là thành viên của tổ chức của mình. Khi nhận bảo lĩnh, cá nhân hoặc tổ chức phải làm giấy cam đoan không để bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội và bảo đảm sự có mặt của bị can, bị cáo theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Toà án. Khi làm giấy cam đoan, cá nhân hoặc tổ chức nhận bảo lĩnh được thông báo về những tình tiết của vụ án có liên quan đến việc nhận bảo lĩnh.

3. Những người quy định tại khoản 1 Điều 80 của Bộ luật này, Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà có quyền ra quyết định về việc bảo lĩnh.

4. Cá nhân nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo phải là người có tư cách, phẩm chất tốt, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật. Việc bảo lĩnh phải có xác nhận của chính quyền địa phương nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc. Đối với tổ chức nhận bảo lĩnh thì việc bảo lĩnh phải có xác nhận của người đứng đầu tổ chức.

5. Cá nhân hoặc tổ chức nhận bảo lĩnh vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan phải chịu trách nhiệm về nghĩa vụ đã cam đoan và trong trường hợp này bị can, bị cáo được nhận bảo lĩnh sẽ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác."

Trường hợp bảo lĩnh quy định tại Điều 92 BLTTHS thì người bảo lĩnh (bảo đảm cho bị can về địa phương) không phải nộp bất cứ một khoản tiền hoặc tài sản nào để đảm bảo, chỉ đảm bảo trên cơ sở uy tín của mình và phụ thuộc vào tính chất của vụ án.

Ngoài ra, cũng theo luật sư Đặng Văn Cường, pháp luật Việt Nam hiện hành cũng có quy định về việc đặt một khoản tiền, tài sản để đảm bảo cho việc cơ quan tố tụng sẽ thả bị can, bị cáo về nhà trong thời gian chờ điều tra, truy tố, xét xử, cụ thể như sau:

"Điều 93. Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm

1. Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm là biện pháp ngăn chặn để thay thế biện pháp tạm giam. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình trạng tài sản của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập.

2. Những người quy định tại khoản 1 Điều 80 của Bộ luật này, Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà có quyền ra quyết định về việc đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm. Quyết định của những người quy định tại điểm d khoản 1 Điều 80 của Bộ luật này phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành.

3. Cơ quan ra quyết định về việc đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm phải lập biên bản ghi rõ số lượng tiền, tên và tình trạng tài sản đã được đặt và giao cho bị can hoặc bị cáo một bản.

4. Trong trường hợp bị can, bị cáo đã được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án triệu tập mà vắng mặt không có lý do chính đáng thì số tiền hoặc tài sản đã đặt sẽ bị sung quỹ Nhà nước và trong trường hợp này bị can, bị cáo sẽ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác. Trong trường hợp bị can, bị cáo chấp hành đầy đủ các nghĩa vụ đã cam đoan thì cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm trả lại cho họ số tiền hoặc tài sản đã đặt.

5. Trình tự, thủ tục, mức tiền hoặc giá trị tài sản phải đặt để bảo đảm, việc tạm giữ, hoàn trả, không hoàn trả số tiền hoặc tài sản đã đặt được thực hiện theo quy định của pháp luật."

Thêm vào đó, nhằm áp dụng đúng và thống nhất quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về đặt tiền để bảo đảm trong tố tụng hình sự, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, VKSNDTC, TANDTC ban hành Thông tư liên tịch 17/2013/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC có hiệu lực kể từ 15/01/2014. Theo đó, cơ quan tiến hành tố tụng quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm khi có đủ các điều kiện sau:

Thứ nhất, bị can, bị cáo phạm tội lần đầu; có nơi cư trú rõ ràng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;

Thứ 2, bị can, bị cáo có khả năng về tài chính để đặt bảo đảm theo quy định. Đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần mà không có hoặc không đủ tiền để đặt bảo đảm thì xem xét đến khả năng tài chính của người đại diện hợp pháp của họ;

Thứ 3, có căn cứ xác định, sau khi được tại ngoại, bị can, bị cáo sẽ có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng và không tiêu huỷ, che giấu chứng cứ hoặc có hành vi khác cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử;

Thứ 4, việc cho bị can, bị cáo tại ngoại không gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự; - Bị can, bị cáo không thuộc trường hợp phạm một trong các tội xâm phạm an ninh quốc gia; các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh; phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người; hành vi phạm tội gây dư luận xấu trong nhân dân….

Luật sư Đặng Văn Cường chia sẻ thêm, mức tiền được đặt để bảo đảm do Cơ quan điều tra, VKS, Tòa án quyết định nhưng không quá 20 triệu đồng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, 80 triệu đồng đối với tội phạm nghiêm trọng, 200 triệu đồng đối với tội phạm rất nghiêm trọng. Đối với các trường hợp bị can, bị cáo là đối tượng đặc biệt như thuộc hộ nghèo; là thương binh, bệnh binh, được tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động, người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần… thì các cơ quan trên có thể quyết định mức tiền bảo đảm thấp hơn, nhưng không dưới 1/2 mức nêu trên.

Theo hướng dẫn tại Thông tư số 17/2013/TTLT thì "Bị can, bị cáo không thuộc trường hợp phạm một trong các tội xâm phạm an ninh quốc gia; các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh; phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người; hành vi phạm tội gây dư luận xấu trong nhân dân…"

“Theo quy định trên, với tội danh như giết người, cướp tài sản, hiếp dâm trẻ em, giao cấu với trẻ em... thì không được đặt tài sản để bảo lãnh. Vì vậy, nếu Minh béo bị khởi tố theo pháp luật Việt Nam về các hành vi mà cơ quan tố tụng Hoa Kỳ đang cáo buộc thì (hiếp dâm trẻ em, giao cấu với trẻ em, dâm ô với trẻ em..) thì Minh béo có bỏ ra 22 tỷ đồng hay nhiều hơn nữa cũng không thể áp dụng được Điều 93 BLTTHS để tại ngoại”- Luật sư Đặng Văn Cường đưa ra nhận định.

Hồng Chuyên