Bên cạnh vấn đề xử lý nợ xấu của ngành ngân hàng, một vấn đề trọng yếu khác là các ngân hàng sẽ phải nâng vốn để theo kịp với chuẩn Basel 2 sẽ áp dụng trước năm 2019.

Ảnh hưởng từ việc áp dụng Basel 2 dẫn đến áp lực tăng vốn sẽ ảnh hưởng nhiều nhất đến 3 ngân hàng quốc doanh đang niêm yết trên sàn chứng khoán là Vietcombank, Vietinbank và BIDV. Với thời hạn kể trên, tăng vốn đã trở thành vấn đề cấp thiết đối với hầu hết các ngân hàng. Theo NHNN, hệ số CAR bình quân của các ngân hàng quốc doanh tại thời điểm cuối tháng 9/2016 là 9,48% trong khi của các NHTMCP ngoài quốc doanh  là 12,1%.

Phương án nào để tăng vốn?

Theo tính toán của CTCK HSC, về nhu cầu tăng thêm vốn cấp 1 và vốn cấp 2, ở thời điểm hiện tại Vietcombank là ngân hàng có nhiều phương án tăng vốn với thời gian không bị hạn hẹp. Trong khi đó Vietinbank cần phải sớm cải thiện hệ số CAR và sẽ phải tăng vốn cấp 1 nhiều hơn so với vốn cấp 2. Đối với BIDV, đây là ngân hàng có hệ số CAR thấp nhất và hiện không còn dư địa để nâng vốn cấp 2 nên sẽ ít lựa chọn hơn đối với việc tăng vốn.

Chính phủ đã quyết định không bơm thêm vốn cho các ngân hàng quốc doanh, do vậy các phương án tăng vốn cho các ngân hàng quốc doanh hiện nay gồm tăng vốn từ lợi nhuận chưa phân phối, tăng vốn cấp 1, và tăng vốn cấp 2.

Phương án thứ nhất có vẻ không khả thi khi lợi nhuận chưa phân phối và cổ tức bằng cổ phiếu được coi là một phần của ngân sách. Việc Bộ Tài chính yêu cầu BIDV trả cổ tức bằng tiền mặt với tỷ lệ 8,5% và Vietinbank có thể cũng sẽ phải làm như vậy khiến nguồn tiền để phục vụ cho việc tăng vốn bị giảm đáng kể.

Với phương án tăng vốn cấp 1, hiện tỷ lệ sở hữu của nhà nước tại BIDV là 95,28%; Vietcombank là 77,1% và Vietinbank là 64,46%. Với room hiện đã đầy ở gần 30% và tỷ lệ sở hữu nhà nước ở 64,46%, Vietinbank sẽ không thể phát hành thêm cho NĐT cả trong và ngoài nước trừ khi nhà nước cho phép nới các giới hạn này. Trong trường hợp của BIDV, room dành cho NĐT nước ngoài vẫn còn nhưng ngân hàng lại gặp khó khăn khi tìm kiếm NĐT chiến lược nước ngoài trong vài năm qua. Trường hợp của Vietcombank, phương án phát hành 10% vốn cấp 1 cho đối tác vẫn chưa nhận được chấp thuận.

Với phương án tăng vấn cấp 2, Vietcombank với tỷ lệ vốn cấp 2/vốn cấp 1 là 24%, tỷ lệ này của Vietinbank là 38%, cả hai ngân hàng này vẫn còn dư địa để tăng vốn cấp 2, là phương án có thể sử dụng trong trung hạn và ngắn hạn. Trong khi đó, tỷ lệ này tại BIDV đã chạm mức tối đa theo quy định là 50%, nên BIDV không thể phát hành trái phiếu nâng vốn cấp 2.

Vietcombank sẽ phát hành 2.000 tỷ đồng trái phiếu để nâng vốn cấp 2 và nâng cao hệ số CAR trong tổng số 3.000 tỷ đồng trái phiếu sẽ phát hành trong năm 2016.

Ngân hàng nào khát vốn nhất?

Nếu không nâng vốn, tăng trưởng tín dụng của Vietinbank và BIDV có thể sẽ bị hạn chế đáng kể trong nửa đầu 2017 cho đến khi các ngân hàng này có thể tăng vốn thành công. Với từng trường hợp cụ thể, HSC đã có những phân tích chi tiết, cụ thể:

Với Vietcombank, nếu kế hoạch phát hành riêng lẻ chưa nhận được chấp thuận, ngân hàng có thể phát hành trái phiếu tăng vốn cấp 2. Ước tính hệ số CAR của Vietcombank tại thời điểm cuối tháng 9/2016 là 10,8%, sau khi phát hành, tỷ lệ vốn cấp 2/vốn cấp 1 là 24,3%, nghĩa là Vietcombank vẫn còn nhiều dư địa tăng vốn cấp 2, và hệ số CAR sẽ tăng lên 11,3%. Trong khi đó, hệ số CAR tính theo Basel 2 là trên 7%, có thể tăng lên 9,5% sau khi phát hành riêng lẻ để tăng vốn cấp 1 thành công. Lãnh đạo Vietcombank cho biết, hệ số CAR này đủ để ngân hàng tăng trưởng trong hơn 2 năm tiếp theo trước khi phải tăng vốn tiếp.

Như vậy, trong trường hợp của Vietcombank, trước mắt ngân hàng có thể phát hành tăng vốn cấp 2 và sẽ là tích cực nếu phát hành thành công để tăng vốn cấp 1 trong 12-15 tháng tới.

Với Vietinbank, ngân hàng đã có kế hoạch tăng vốn thêm 3.000 tỷ đồng thông qua việc hoàn thành thương vụ sáp nhập với PGBank. Tuy nhiên kế hoạch sáp nhập tiếp tục bị trì hoãn, đồng thời khả năng cao ngân hàng sẽ phải trả cổ tức năm 2015 bằng tiền mặt, vì vậy rất có thể kế hoạch tăng vốn cấp 1 kể trên sẽ không thể thực hiện.

Ước tính hệ số CAR của Vietinbank vào cuối tháng 9/2016 là 11%, tăng từ 10,7% tại cuối năm 2015 nhờ bổ sung 5.400 tỷ đồng trái phiếu thứ cấp và lợi nhuận giữ lại tăng 5.200 tỷ đồng. Theo đó, vào cuối tháng 9/2016, tỷ lệ vốn cấp 2/cấp 1 là 38%. Hiện tại, vốn cấp 1 của Vietinbank là 57.145 tỷ đồng cho phép ngân hàng có thể tăng vốn cấp 2 thêm 30%, tương đương 6.700 tỷ đồng.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng nếu Vietinbank phải trả cổ tức năm 2015 bằng tiền mặt, với tỷ lệ giả định là 8,5% vốn điều lệ, là 37.234 tỷ đồng, vốn cấp 1 khi đó sẽ giảm 3.165 tỷ đồng.

Dù vậy, dư địa cho Vietinbank tăng vốn cấp 2 là vẫn còn, muộn nhất đến cuối năm 2017, ngân hàng sẽ cần huy động thêm vốn cấp 1 với mức huy động thêm khoảng 5.500 tỷ đồng.

Với BIDV, Đại hội đồng cổ đông thường niên phê duyệt 4 phương án tăng vốn. Khi đó, các kế hoạch đề xuất dự kiến sẽ tăng vốn chủ sở hữu thêm tổng cộng 27,63%, cụ thể: Tăng 8,5% vốn chủ sở hữu từ phát hành cổ phiếu trả cổ tức năm 2015; tăng 4,4% vốn chủ sở hữu từ phát hành cổ phiếu thưởng nhờ khoản lãi từ thoái vốn khỏi VID – Public; tăng 8,54% vốn chủ sở hữu từ phát hành cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu với giá 10.000đ/cp; và tăng 6,2% vốn chủ sở hữu từ phát hành quyền mua với giá không thấp hơn 12.500đ/cp trong đó NHNN có thể chuyển nhượng quyền mua cổ phiếu cho các bên khác.

Tuy nhiên, cuối tháng 10/2016, Chính phủ đã từ chối đề xuất phát hành cổ phiếu trả cổ tức. Do đó, phương án thứ hai hoặc thứ ba có thể không được lựa chọn, bản thân ban lãnh đạo BIDV cũng bày tỏ những nghi ngại trong những phát biểu trước đó. Do vậy, có vẻ như BIDV chỉ có thể thực hiện phương án tăng vốn cuối cùng và tăng 6,2% vốn chủ sở hữu từ phát hành quyền mua.

Ngân Giang